Selamat datang di CaraGampang.Com
Loading...

“Thần lửa”

April 27, 20170 nhận xét

(Tindautruongdanchu)-Sáng 30/4/1975, hai chiếc xe tăng T54B số hiệu 843 (do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy) và T59 số hiệu 390 đã lần lượt húc đổ cổng phụ và cổng chính Dinh Độc Lập. Câu chuyện về hai chiếc xe tăng ấy đã trở thành niềm tin kiêu hãnh cho quân đội Nhân dân Việt Nam nói chung, của bộ đội tăng - thiết giáp nói riêng. Đó là minh chứng cho sức mạnh chính nghĩa của toàn quân, toàn dân, của Cách mạng Việt Nam vượt qua muôn ngàn khó khó khăn, thử thách, đánh bại kẻ thù mạnh nhất, đập tan bộ máy chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn.



Thế nhưng, có lẽ chúng ta mới chỉ biết về hai chiếc xe tăng mang số hiệu 390 và 843 ấy chứ ít người biết rằng để có được chiến thắng 30/4/1975 đã có sự hi sinh không ít xương máu của bộ đội tăng - thiết giáp. Tinh thần cách mạng đã đưa họ vào các trận đánh mà không hề sợ hy sinh với niềm tin “tiến thẳng hướng Sài Gòn”. Đa số họ đều còn rất trẻ và không ít chàng trai ấy đã nằm lại nơi cửa ngõ Sài Gòn. Sau đây, người viết xin chia sẻ một câu chuyện về những con người như thế.



Câu chuyện được chia sẻ từ Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, nguyên là chiến sĩ lái xe tăng số 380 thuộc Đại đội 4, Lữ đoàn 203, cùng đơn vị với các xe tăng 390 và 843 húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30/04/1975.

Trung tuần tháng 5/1975, ông Nguyệt được thủ trưởng đơn vị giao nhiệm vụ lái một chiếc xe tăng M-48 "tù binh - chiến lợi phẩm" do Mỹ sản xuất lên Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 lúc đó đang đóng tại cơ sở của Trường Võ bị Thủ Đức để triển lãm. Mặc dù không có cán bộ chỉ huy đi cùng song vị trí của Trường Võ bị Thủ Đức thì ông Nguyệt vẫn nhớ như in. Nó nằm ngay bên trái đường, cách xa lộ chừng vài chục mét. 



Đi hết chiều dài hàng rào đến ngã ba Tăng Nhơn Phú, rẽ trái vào một đoạn thì họ thấy cái cổng trường to lừng lững ngay bên tay trái trông rất oai phong. Tuy nhiên, cái thu hút sự chú ý của họ nhiều hơn lại là xác một chiếc tăng bơi nước kiểu K63-85 cháy đen thui nằm trước cổng. Chiếc xe cháy nằm gần như đối diện với cổng chính của trường, cách cổng chừng vài chục mét, đầu xe hướng chênh chếch về phía xa lộ, một bên xích đứt rời cuộn lại thành một đống phía sau. Ở sườn xe bên phải, ngay đoạn buồng chiến đấu là một lỗ thủng to tướng đút lọt chiếc mũ cối. Các mảnh thép xung quanh lỗ thủng nham nhở, cong queo… Vết đạn chống tăng gọn chứ không như thế này. Đây là xe bơi nước, thành xe mỏng chỉ độ hơn 10 ly thép nên đạn nổ cỡ lớn là đủ phá được. Ngôi sao quân hiệu và ba chữ số vẫn còn hiện lên trắng mờ trên cái nền đen kịt. Đó là số 707.



Phía bên trái cổng trường (từ ngoài nhìn vào) có một khẩu “Vua chiến trường” 175 mm. Nó nằm ở chỗ hơi thấp và nòng cũng hạ thấp, gần như nằm ngang. Chính khẩu pháo kia đã bắn hạ chiếc xe này. Nếu đúng vậy, tất cả những người trong buồng chiến đấu sẽ hy sinh ngay lập tức, may ra chỉ lái xe là sống sót.

Ngay cạnh chiếc xe, chỗ ngang với buồng chiến đấu là một cái ban thờ. Đó  là một cái ban ban thờ thiên thường gặp từ vùng Quảng Trị trở vào. Một cái chân bằng gỗ tròn to cỡ bắp đùi chôn sâu xuống đất. Trên đỉnh của nó là một mảnh gỗ vuông vắn được be lên 3 phía.


Có lẽ người làm ra nó khá vội vàng vì không thấy sơn màu gì cả mà vẫn để gỗ mộc. Trên đó là một cái bát hương làm bằng lon sữa bò dày đặc chân hương vẫn còn đỏ tươi. Dưới chân ban thờ là mấy mô đất vun cao trông như mấy nấm mộ cũng lác đác vài cái chân hương. Ban thờ này được lập ra là để thờ các chiến sĩ trong xe. Mấy nấm đất bên cạnh tượng trưng cho những ngôi mộ của những người hy sinh. Ngôi mộ gió đó do chính người dân chúng ở khu vực đó làm cho những chiến sĩ trong kíp xe.

Nhân chứng...

Hỏi thăm dân chúng gần đó, ông Nguyệt biết được ông già tên Viên là người đã lập cái ban thờ và thường xuyên hương khói ở đấy. Câu chuyện của ông già Viên ngày đó đã ám ảnh ông Nguyệt suốt cuộc đời:

"Từ mấy bữa trước đó thấy các ông sĩ quan, binh sĩ trong Trường Võ bị ra chơi nói chuyện chúng tôi cũng biết tình hình Việt Nam Cộng Hòa nguy đến nơi rồi. Quân trường hổm rày đã điều hết quân lính ra Long Thành chống cự với các chú rồi nên cũng chẳng còn mấy quân lính nữa. Nhưng không ngờ các chú đánh nhanh quá. Sáng sớm hôm 30.4, nghe ngoài xa lộ xe tăng đã quân giải phóng đã chạy rần rần.

Tôi chạy ra ngó thấy nhiều xe tăng lắm. Rồi nghe tiếng súng từ trong quân trường bắn ra, súng ngoài xa lộ bắn vào dữ dội. Biết là các chú đánh tới nơi, tôi hối bà xã cùng mấy bà bên cạnh kéo sắp nhỏ chạy tuốt vô trong rẫy nằm để tránh tên rơi đạn lạc.

Còn mình tôi ở lại trông nhà với lại theo dõi tình hình xem sao. Một chặp sau thì thấy các ổng - ông hất cằm về phía chiếc xe cháy - xuất hiện. Các ổng vừa chạy vừa bắn vào phía cổng quân trường một hồi rồi lao tới húc tung cổng xông thẳng vào trỏng. Tôi đứng đây ngó vào thấy các ổng vừa chạy dọc con đường chính của quân trường vừa bắn sang hai bên. Bắn dữ lắm! Đạn nối thành dây đỏ lừ. Một chặp sau thì các ổng chạy trở ra, lúc này không bắn nữa.

Tôi đoán chắc các ổng đã diệt hết quân lính ở trỏng và bây giờ muốn trở ra xa lộ. Lúc các ổng đang quay ra hướng xa lộ thì một bên sên (xích) xe buột ra. Các ổng vẫn chạy thêm một đoạn nữa rồi mới chịu dừng lại đúng ở chỗ bây giờ đó.

Có lẽ các ổng định dừng lại để sửa chữa cái dải sên đó thì phải vì tôi thấy cái nắp trên nóc đã mở ra. Đúng lúc đó thì một tiếng nổ dữ dội vang lên. Tôi chỉ thấy nhoáng một cái và ù hết cả hai tai. Khi mở mắt ra thì tôi sững cả người, các ổng đang bốc lửa đùng đùng.

Lửa trên xe cháy mỗi lúc một to. Khói đen mù mịt. Thỉnh thoảng lại bùng lên một cái. Tôi sợ lắm nhưng vẫn tiến lại gần. Biết đâu có ông nào bị thương mà nhảy ra thì mình còn có thể cứu giúp được. Lính bên nào thì cũng là người mình cả?

Tôi nép sát vào hiên nhà rồi chăm chú nhìn vào chiếc xe xem liệu có ai chui ra không. Nhưng không có ai cả, chỉ thấy khói lửa mịt mù. Đúng lúc đó tôi nghe tiếng người cười nói rổn rảng ở phía đằng cổng quân trường.

Tôi quay ra nhìn thì thấy ông trung tá Lâm, sếp phó Trường Võ bị cùng mấy ông lính nữa đang chạy từ phía khẩu pháo to ở đằng kia lại. Họ vừa chạy vừa cười nói có vẻ phởn chí lắm. Tôi đoán chừng có lẽ chính họ vừa bắn hạ được các ổng nên chạy ra xem hay định bắt tù binh nữa không chừng. Sợ các ổng nhìn thấy mình tui vội vàng nép hẳn vào trong.



Nhưng đúng vào lúc đó, đúng vào lúc ông Lâm và mấy ông lính nghênh ngang nhứt, hào hứng nhứt… thì giữa đám khói lửa mù mịt đó một ông bất ngờ đứng dạy. Người ổng cũng đang CHÁY BÙNG BÙNG. Tay ổng cắp khẩu súng lia một loạt dài rồi đổ gục xuống tại chỗ. Tôi sợ run hết cả người, cứ chắp tay xá mãi. Đúng là từ hồi nhỏ đến giờ tôi mới chứng kiến cảnh tượng ấy.

Ổng như là “Thần Lửa” ấy. Đến lúc tôi định thần nhìn ra thì thấy ông trung tá Lâm với mấy người lính cộng hòa đã trúng đạn chết cả… Từ hôm ấy tôi vẫn hay nằm mơ thấy ông Thần Lửa hiện về đấy. Ổng không nói mà chỉ cười thôi.

Chú đã bao giờ chứng kiến cảnh ấy chưa? Chú thấy tôi gọi ổng là Thần Lửa có đúng không?

Mấy hôm sau có các chú ở đơn vị quay lại tìm. Nghe kể trong xe có 5 người và đều còn rất trẻ. Mỗi người chỉ còn một nhúm tro. Các ổng đã chết cho tôi được sống, vì nếu chiếc xe tăng không chặn ở đấy thì cả dãy nhà tôi hứng trọn làn đạn.”

Hai mươi năm sau...

Hai mươi năm sau, nơi chiếc xe 707 nằm lại cùng với cái ban thờ và 5 ngôi mộ gió giờ đã trở thành lòng một con đường lớn. Dãy nhà lụp xụp cạnh đó bây giờ là dãy phố khang trang.

Lịch sử Binh chủng Tăng Thiết giáp, Lịch sử Lữ đoàn xe tăng 203, Trung đoàn xe tăng 574… phần về sự kiện có ghi như sau:

“Khoảng 7h30 ngày 30.4.1975, khi đội hình binh đoàn thọc sâu đến Thủ Đức thì bị địch ở Trường Võ bị bắn ra ngăn chặn gây thương vong cho một số chiến sĩ. Xe tăng 707 do Trần Quang Nhàn chỉ huy được lệnh cơ động vào trường đánh địch để bảo vệ bên sườn cho đội hình…”

Sau một thời gian tìm hiểu từ nhiều nguồn ông Nguyệt đã tìm ra danh tính cũng như quê quán của 5 chiến sĩ trên xe 707 ngày 30/4/1975 là:

- Trưởng xe: Trần Quang Nhàn. Sinh năm 1954. Quê quán: Lực Điền, Yên Bình, Vĩnh Tường, Vĩnh Phú.

- Pháo thủ một: Nguyễn Văn Hữu. Sinh năm 1954. Quê quán: Hoà Xá, Đồng Phú, Chương Mỹ, Hà Tây.

- Lái xe: Phạm Duy Hòa. Sinh năm 1950. Quê quán: Triều Khê, Đội Bình, Ứng Hòa, Hà Tây.

- Pháo thủ hai: Ngô Văn Nghị. Sinh năm 1953. Quê: Tông Thượng, Quang Trung, Kinh Môn, Hải Dương.

- Y tá đi cùng: Trần Trọng Đông. Sinh năm 1954. Quê quán: Xóm: Đông, Đông Sơn, Chương Mỹ, Hà Tây.

Người mà ông già Viên nhìn thấy vùng dậy diệt địch khi lửa cháy bùng bùng trên thân mình là lái xe Phạm Duy Hòa - người duy nhất có thể sống sót trước sức công phá của viên đạn 175 ly trúng vào buồng chiến đấu.

Không chỉ lập công trong trận đánh này mà xe 707 đã lập công xuất sắc trong nhiều trận đánh khi còn nằm trong đội hình Trung đoàn xe tăng 574, đặc biệt là trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Kết thúc chiến dịch này, xe đã được đề nghị tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất. Nhà nước đã truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho xe 707.

Họ vẫn mãi mãi là những người anh hùng trong lòng những người lính của Lữ đoàn xe tăng 203; mãi mãi là vị “Thần Lửa” uy dũng trong lòng bà con nhân dân Tăng Nhơn Phú.

HNN (dautruongdanchu.com)
Share this article :
loading...

TIN NỔI BẬT TRONG NGÀY

Bóc trần bộ mặt thật của Việt Tân: Tổ chức khủng bố Việt Tân chỉ là trò lừa đảo của anh em nhà Hoàng Cơ Minh (Bài 4)

(Tindautruongdanchu)-Tổ chức khủng bố Việt Tân do Hoàng Cơ Minh thành lập cho đến nay vẫn chỉ là một tổ chức khủng bố lừa đảo của anh em nh...

Loading...
 
Copyright © 2011. TIN ĐẤU TRƯỜNG DÂN CHỦ - All Rights Reserved

Distributed By Free Blogger Templates | Lyrics | Songs.pk | Download Ringtones | HD Wallpapers For Mobile

Proudly powered by Blogger