Selamat datang di CaraGampang.Com
Loading...

Đừng đánh đồng giữa tự phê bình và phê bình với thói xét lại

June 18, 20170 nhận xét

(Tindautruongdanchu)-Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng ngày quan tâm giáo dục cán bộ, đảng viên phải nắm chắc và khéo sử dụng vũ khí tự phê bình phê bình, làm cơ sở để sửa chữa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố chính quyền trong sạch vững mạnh. Người vạch rõ: “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người. Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 442, NXB Sự thật Hà Nội-1984).

Lịch sử đã chứng minh, trong những bước “chuyển mình” của xã hội từ cũ kỹ, lạc hậu tiến lên con đường tiến bộ văn minh đều không thể tránh được những sai lầm thiếu sót. Tuy nhiên, ở mỗi một giai đoạn của những bước chuyển mình ấy, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng một cách linh hoạt tư tưởng của người trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và chính quyền, rút kinh nghiệm sâu sắc trong khắc phục và sửa chữa các khuyết điểm.



Bản thân người viết sẽ không đi sâu vào phân tích nội dung tư tưởng của Người mà chỉ muốn đưa ra một vài ví dụ làm dẫn chứng cho thực tế việc vận dụng quan điểm của Người đối với thực tế xã hội Việt Nam trước đây và trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể 3 vấn đề đó là:

- Cải cách ruộng đất giai đoạn 1946 – 1957

- Khoán 10 – Kim Ngọc

- Phong trào Nhân văn – Giai phẩm

Sau đây, người viết trình bầy về từng dẫn chứng như sau:

Cải cách ruộng đất giai đoạn 1946 – 1957

Cải cách ruộng đất giai đoạn 1946 – 1957 là chương trình nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là "bóc lột", "phản quốc" (theo Pháp, chống lại đất nước), "phản động" (chống lại chính quyền) như địa chủ phản cách mạng, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập... được Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo Luật Cải cách ruộng đất thì mục tiêu là "thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển, cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến, đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phóng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc" đồng thời với quá trình chỉnh đốn Đảng trong thời điểm bấy giờ.

Cải cách ruộng đất thời kỳ 1946-1957 được tiến hành qua ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1 năm 1946-1949: Thực hiện tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho dân cày.

- Giai đoạn 2 năm 1950-1953: Cắt giảm địa tô, bãi bỏ khoản tiền thuê ruộng, hoãn nợ cho nông dân, đánh thuế nặng với địa chủ.

- Giai đoạn 3 năm 1954-1957: Phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất triệt để bằng các hình thức như hiến ruộng đất, chia ruộng cho tầng lớp cố nông, bần nông, trung nông, tầng lớp dưới.
Sau 3 năm tiến hành của giai đoạn 3 (1954 – 1956), cuộc cải cách đã phân chia lại ruộng đất công bằng cho đa số nông dân miền Bắc, xóa bỏ giai cấp địa chủ phong kiến. Tuy nhiên,  ở một số địa phương việc thực hiện một cách giáo điều, bảo thủ đã gây ra không khí căng thẳng, gây tác hại đến sự đoàn kết dân tộc, ảnh hưởng tới niềm tin của một số tầng lớp nhân dân với Đảng. Một trường hợp cụ thể có thể nêu tên đó là vụ việc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm (bà Cát Hanh Long), một địa chủ cách mạng vào tháng 7-1953). Vụ bắn bà Nguyễn Thị Năm có 3 điều sai chính sách (bà Năm thuộc vào cả ba diện đáng ra phải được chiếu cố theo Luật Cải cách ruộng đất Quốc hội Khóa I thông qua: Địa chủ kháng chiến, địa chủ kiêm công thương, địa chủ hiến ruộng cho cách mạng), đồng thời không hợp đạo lý của người Việt Nam khi bắn một địa chủ là nữ, không phải cường hào gian ác.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (tháng 10/1956), Bộ Chính trị đã nêu lên một số sai lầm có tính nguyên tắc do không bám sát thực tế, chủ quan, nóng vội dẫn đến nhiều xáo trộn, oan sai... Từ đó, Trung ương Đảng đã đưa ra các yêu cầu chấn chỉnh sửa sai, khôi phục danh dự, xét lại án sai, bù đắp... cho những người bị oan.

Trong “Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, Bác Hồ chỉ rõ: Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Bác đã chỉ ra những lỗi lầm chính ở một số người. Đó là: Trái phép: những tên việt gian phản quốc chứng cớ rõ ràng thì phải trị đã đành, không ai trách được. Nhưng cũng có lúc vì tư thù, tư oán mà bắt bớ, tịch thu gia sản, làm dân oán thán. Cậy thế: cậy mình ở trong ban này, ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân. Hủ hóa: ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, ngày càng xa xỉ, ngày càng lảng mạn, thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức. Tư túng: kéo bè, kéo cánh, bà con, bạn hữu mình không tài năng gì cũng chức này, chức nọ. Người có tài có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Chia rẽ: bênh vực lớp này, chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân dân hòa thuận với nhau, không chia già trẻ, giầu nghèo để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung. Kiêu ngạo: tưởng mình ở cơ quan của Chính phủ là thần thánh rồi, coi khinh nhân dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mệnh” lên. Bác chỉ rõ: “Ai đã phạm những sai lầm trên phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa Chính phủ sẽ không khoan dung. Có những  đồng chí lo ăn ngon, mặc đẹp, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn lo việc công. Có những đồng chí hay có tính kiêu ngạo, tự mãn. Có đồng chí còn giữ thói “một người làm quan cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này, việc kia, làm được hay không mặc kệ. Hỏng việc đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được. Bác kết luận: phải kiên quyết khắc phục những khuyết điểm trên thì chúng ta mới đi đến hoàn toàn thắng lợi.”

Bác Hồ đã khóc tại Hội nghị toàn quốc xin lỗi toàn dân vì những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Bác nói “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Khoán 10 – Kim Ngọc

Kim Ngọc (1917-1979) là nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phú, ông được mệnh danh là "cha đẻ của khoán hộ" mà người ta quen gọi là "khoán mười", "cha đẻ của Đổi mới trong nông nghiệp" ở Việt Nam.

Cách khoán của Khoán hộ

- Khoán cho hộ làm một khâu hoặc nhiều khâu sản xuất trong một thời gian dài;

- Khoán cho hộ các khâu dài ngày hoặc suốt vụ;

- Khoán sản lượng cho hộ, cho nhóm;

- Khoán trắng ruộng đất cho hộ - Hình thức khoán trắng đơn giản, dễ tính toán nên được nông dân hưởng ứng rầm rộ và tự nó đã thành phong trào quần chúng rộng rãi trong toàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Thời điểm ấy, có khá nhiều người lăn xả vào để ủng hộ khoán hộ, nhưng cũng không ít người đã lên tiếng phê phán khoán hộ là xa rời CNXH, đưa nông nghiệp trở lại con đường tư hữu hoá (vì giao ruộng đất, tài sản cho nông dân). Thà đói còn hơn làm sai nguyên lý của Mác - Lê nin...

Vào khoảng đầu năm 1968, T.Ư có ý kiến chỉ đạo (mà lúc đó trực tiếp từ ông Trường Chinh) yêu cầu Tỉnh uỷ Vĩnh Phú (lúc đó đã sáp nhập Vĩnh Phúc với Phú Thọ thành Vĩnh Phú - ông Kim Ngọc vẫn là Bí thư của Vĩnh Phú) phải kiểm điểm về làm khoán hộ. Theo ý kiến của T.Ư lúc đó thì khoán hộ mà ông Kim Ngọc đang cho làm ở Vĩnh Phúc là một cách làm “phá vỡ quan hệ sản xuất XHCN, đẩy lùi tiến bộ KHKT”.

Sau năm 1954 và năm 1975 với niềm tin kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước sẽ tốt đẹp không còn nạn người bóc lột người, sẽ có quan hệ sản xuất tiên tiến, sẽ thúc đẩy sản xuất,…..chúng ta đã tiến hành hợp tác xã trong sản xuất nông nghiệp: ruộng đất là của chung, sở hữu của toàn dân, của hợp tác xã, nhà nước cử các ban chủ nhiệm HTX để chăm lo sản xuất, sẽ có cánh đồng ngàn mẫu, sẽ cơ giới hóa: cày bừa bằng máy kéo, phun thuốc sâu bằng máy bay,….như mơ ước của các vị lãnh đạo.

Tuy nhiên qui luật tự nhiên của kinh tế, của sở hữu không đúng như vậy, hợp tác xã tàn tạ, đói nghèo, nông nghiệp bết bát,…. Chính sáng kiến "khoán hộ" (hay"Cải tiến công tác quản lý lao động hợp tác xã") của Kim Ngọc và các đồng chí của ông năm 1966, đã dẫn đến "khoán 10" (hay "Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị 1988), tháo bỏ sự ràng buộc, kìm hãm của cơ chế quản lý lạc hậu, đưa một đất nước bao năm thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới.

Dù đã hơn 30 năm nay ông không còn nữa trên cõi đời, nhà “khoán hộ” Kim Ngọc ấy vẫn được Đảng, Nhà nước tôn vinh một lần nữa. Nghĩa cử cao đẹp và chu đáo của thế hệ hiện tại đã nhận được sự đồng tình, sự tôn trọng, sự nhìn nhận của đông đảo nhân dân trong cả nước.

Phong trào Nhân văn – Giai phẩm

Phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm là phong trào được cho là có xu hướng chính trị, đòi thi hành tự do của một số văn nghệ sĩ và trí thức sống ở miền Bắc, dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức kết thúc vào tháng 6 năm 1958. Phong trào này bắt đầu cùng trong thời điểm miền Bắc đang thực hiện chính sách cải cách ruộng đất giai đoạn 3.

Tháng 2/1955, khoảng 30 văn nghệ sĩ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam viết “Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá”, bao gồm ba đòi hỏi: 1) trao lại sự lãnh đạo văn nghệ cho văn nghệ sĩ; 2) thành lập một hội văn nghệ bên trong cơ cấu quân đội; 3) bãi bỏ cơ chế quân sự kiểm soát văn nghệ sĩ phục vụ trong quân đội. tham gia phong trào này đặc biệt có những tên tuổi nổi tiếng trong giới văn, nghệ sĩ, những người đã có những tác phẩm để đời như: nhà văn Nguyễn Tuân (tác giả của Tùy bút kháng chiến), họa sĩ Bùi Xuân Phái (tác giả của tranh Hà Nội kháng chiến), nhà thơ Quang Dũng (tác giả của Tây Tiến), nhạc sĩ Văn Cao (tác giả của Tiến Quân Ca),…

Trong bối cảnh phương Tây đang tiến hành gây rối loạn ở hệ thống xã hội chủ nghĩa, lực lượng tình báo nước ngoài đã kích động một bộ phận văn nghệ sĩ có chính kiến đối lập tạo nên phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Ban đầu, Nhân Văn - Giai Phẩm chỉ phê phán những sai lầm, nhưng về sau dần chuyển sang phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, phủ nhận quyền lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam về Chính trị và Nhà nước thậm chí kích động kêu gọi nhân dân xuống đường biểu tình. Cuối năm 1956, vài người cầm đầu phong trào đã bộc lộ khuynh hướng chống chế độ ngày càng công khai. Sau các biến động trên thế giới, chính quyền quyết định chấm dứt Nhân Văn - Giai Phẩm. Như vậy là, dưới sự nhúng tay của các thế lực thù địch Nhân văn – Giai phẩm đã trở thành một phong trào phản Cách mạng với những âm mưu thâm độc là: 1) Kích thích chủ nghĩa cá nhân tư sản, bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản, 2) Xuyên tạc mâu thuẫn xã hội, khiêu khích nhân dân chống lại chế độ và Đảng lãnh đạo, 3) hống lại chuyên chính dân chủ nhân dân, chống lại cách mạng xã hội chủ nghĩa, 4) Gieo rắc chủ nghĩa dân tộc tư sản, gãi vào đầu óc sô-vanh chống lại chủ nghĩa quốc tế vô sản.

Đến những năm 1986, các vấn nạn về văn hóa trở lên nghiêm trọng, lối sống thực dụng, văn hóa lai căng phổ biến ở thành thị, nhất là tác động lớp trẻ, ở nông thôn văn hóa nhiều nơi lạc hậu, tệ mê tín dị đoan phát triển. Ít các tác phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng, có chiều sâu. Báo chí xu hướng lá cải hóa, thương mại hóa phát triển. Việc đổi mới văn hóa là điều cần thiết để hòa nhập với xu thế của đất nước, nhưng những tinh hoa văn hóa nên được bảo toàn và gìn giữ, lưu truyền cho các thế hệ sau.
Đảng ta đã chủ trương thực hiện Chính sách Đổi Mới, chính thức từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI. Việc đổi mới đã được thực hiện triệt để trên toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,… Nhiều nghệ sĩ từng tham gia Nhân Văn - Giai Phẩm đã được phục hồi danh dự và được phong tặng các giải thưởng quan trọng:

- Giải thưởng Hồ Chí Minh: Giáo sư Cao Xuân Huy (về khoa học xã hội, 1996); Nhà văn Nguyễn Tuân (về văn học, 1996); Nhạc sĩ Văn Cao (về âm nhạc, năm 1996); Họa sĩ Bùi Xuân Phái (về hội họa, 1996), Nhà triết học Trần Đức Thảo (về khoa học xã hội, năm 2000); Giáo sư Đào Duy Anh (về khoa học xã hội, năm 2000); Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý (về âm nhạc, năm 2000); Nhà thơ Nguyễn Bính (về văn học, 2000).

- Giải thưởng Nhà nước: Nhà thơ Quang Dũng (về văn học, 2000). Tháng 2 năm 2007, 5 nhà văn thuộc Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm gồm Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Yến Lan và Hoàng Cầm được Chủ tịch nước Việt Nam ký quyết định tặng thưởng giải thưởng Nhà nước.

Cùng với sự thay đổi của kinh tế, chính trị, xã hội, Đảng đã từng bước có sự phát triển về nhận thức trong ban hành và thực hiện các chủ trương, đường lối trong xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt. Kết quả là đến thời điểm hiện tại, nước ta đã có sự phát triển và thành tựu về mọi mặt. Có được điều đó là trên cơ sở sự đoàn kết, nhất trí của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong đó không thể bỏ qua việc Đảng và Nhà nước ở từng giai đoạn đã tự phê bình và phê bình, nhìn trực diện vào thực tế, rút kinh nghiệm và sửa chữa, khắc phục những sai lầm.

Nhờ có nhận thức để khắc phục khuyết điểm ấy, những người bị oan sai trong cải cách ruộng đất đã được minh oan; những văn nghệ sĩ cách mạng có điều kiện tiếp tục cống hiến những tác phẩm chân chính, sâu sắc trong xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và con người mới xã hội chủ nghĩ; nền nông nghiệp thay đổi cơ cấu, kinh tế chuyển mình và gặt hái nhiều thắng lợi trong giai đoạn hiện nay.

Sự nhận thức, xác định và sửa chữa sai lầm chính là “tự phê bình và phê bình” theo tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại. Nó khác xa với thói “xét lại” của bè lũ phản động và các thế lực chống phá nhà nuớc. Người Cộng sản, người làm Cách mạng nhìn nhận lại khuyết điểm để rút kinh nghiệm, sửa chữa và đổi mới. Bọn phản động xét lại để bôi nhọ lãnh tụ, chống đối Đảng và phủ nhận thành quả Cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Như vậy trong cùng một “hiện tuợng” là nhìn nhận lại vấn đề nhưng bản chất của “tự phê bình và phê bình” của người cách mạng khác hoàn toàn với thói “xét lại” của những kẻ chống phá đất nuớc. Vì vậy, trong mỗi vấn đề cụ thể chúng ta luôn cần phải nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện, cụ thể chứ không thể quy chụp, bảo thủ và trì trệ. Đặc biệt không thể ĐÁNH ĐỒNG TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH với THÓI XÉT LẠI của những kẻ chống phá đất nước.

Với tinh thần “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa", thiết nghĩ, mỗi chúng ta cần suy ngẫm làm theo tấm gương mẫu mực của Bác là cách tốt nhất để cống hiến vì đất nước, vì dân tộc./.

HNN (dautruongdanchu.com)
Share this article :
loading...

TIN NỔI BẬT TRONG NGÀY

Nể phục và học tập hai phụ nữ Việt Nam dũng cảm phá tan cuộc biểu tình do Bùi Thanh Hiếu tổ chức

(Tindautruongdanchu)-Hai người phụ nữ Việt Nam xuất hiện trong đoạn clip đã rất "dũng cảm" để dẹp nhóm biểu tình do Bùi Thanh Hi...

Loading...
 
Copyright © 2011. TIN ĐẤU TRƯỜNG DÂN CHỦ - All Rights Reserved

Distributed By Free Blogger Templates | Lyrics | Songs.pk | Download Ringtones | HD Wallpapers For Mobile

Proudly powered by Blogger