Đăng bởi Đấu trường Dân chủ lúc December 10, 2016 , 0 bình luận

Chế độ Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên để phá hoại hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước mà Hiệp định Giơnevơ (1954) quy định, tạo điều kiện cho Mỹ thiết lập chủ nghĩa thực dân mới, chiếm đóng lâu dài miền Nam Việt Nam. Mặc dù Mỹ-Diệm ra sức rêu rao về một chính quyền Cộng hòa, tự do, dân chủ, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam nước ta (1955-1963) thực chất là một chế độ bóp nghẹt tự do dân chủ trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1963, trong đó có một nguyên nhân không thể không kể đến đó là kỳ thị và đàn áp tôn giáo.



Bài 1: Chính sách kỳ thị tôn giáo, tín ngưỡng của Ngô Đình Diệm


Trở lại lịch sử, khi mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn cuối, việc thất bại của thực dân Pháp chỉ còn tính theo thời gian, Mỹ đã toan tính cơ hội chiếm đóng lâu dài Việt Nam. Một mặt Mỹ chuẩn bị con bài chính trị mà người đứng đầu là Ngô Đình Diệm, một tu sĩ của đạo Công giáo, mặt khác Mỹ gấp rút chuẩn bị cơ sở vật chất, trong đó đáng kể là cuộc di cư, đưa người dân là tín đồ Công giáo miền Bắc vào miền Nam làm hậu thuẫn cho Mỹ-Diệm. Bởi Mỹ nhận ra chính sách lợi dụng tôn giáo mà chủ yếu là Công giáo mà thực dân Pháp lợi dụng vào xâm lược và nô dịch nhân dân Việt Nam là chính sách thâm độc và có hiệu quả. Trong khi đó Công giáo ở miền Nam trước cuộc di cư số lượng tín đồ và lực lượng chống cộng là nhỏ bé so với Công giáo miền Bắc. Vì vậy Mỹ-Diệm thực hiện ý đồ lôi kéo giáo dân đặc biệt là tầng lớp giáo sĩ phản động chống cộng từ miền Bắc di cư vào Nam càng nhiều càng tốt.




Cuối tháng 6 năm 1954, trong khi Hội nghị Giơnevơ đang tiến hành thì ngày 30-6 năm 1954 Đài phát thanh AFP (Pháp) loan tin: Trong cuộc họp báo chí, Tổng thống Mỹ Aixenhao có ý định “tổ chức một cuộc di cư có kế hoạch dân chúng Việt Nam từ Bắc vào Nam nếu Hiệp định đình chiến được ký kết”. Kể từ đó đế quốc Mỹ rất ráo riết thực hiện ý đồ của họ. Trong vòng tháng 7 năm 1954, Mỹ bỏ ra 45 triệu đồng tiền Đông Dương cho bọn tay sai chi tiêu về việc di cư. Trong việc làm này Mỹ đặc biệt dựa vào Ngô Đình Diệm và bọn giáo sĩ phản động tập hợp quanh Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ.

Trong hội nghị “Liên minh chống cộng châu Á” họp tại Sài Gòn tháng 3 năm 1957, Ngô Đình Diệm lớn tiếng hô hào “chúng ta đừng quên vũ khí chân lý sẵn có trong kho tàng tôn giáo. Sử dụng vũ khí đó là mục tiêu của liên minh chống cộng châu Á”(1).

Năm 1960 khi sang thăm Đài Loan, Ngô Đình Diệm tâm sự với Tưởng Giới Thạch rằng “Tôn giáo là một vũ khí hiệu nghiệm”(2).

Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1956 có khoảng 800.000 người Công giáo, khoảng 2/3 dân số người Công giáo miền Bắc lúc bấy giờ di cư vào Nam.(3) Số linh mục, giám mục di cư là 809 chiếm 72%.(4)

Giáo dân miền Bắc di cư vào Nam được Mỹ-Diệm ban đầu tập trung vào các trại tị nạn. Đầu năm 1958 Mỹ-Diệm giao cho Bùi Văn Lương, Tổng ủy trưởng Tổng ủy Di cư kiêm cả chức Tổng ủy trưởng Tổng ủy Doanh điền. Bùi Văn Lương cho chuyển hàng vạn giáo dân di cư đến định cư tại các khu doanh điền lập ra ở khắp miền Nam nhất là ở miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và các vùng dọc biên giới mênh mông miền Nam Việt Nam – Campuchia.

Cùng với việc lập ra các khu doanh điền là việc tái lập các xứ, họ đạo Công giáo cho người di cư tại vùng đất mới. Thông thường người dân di cư thường gom lại theo địa bàn cư trú trước đây ở miền Bắc. Có thể là cư dân của một làng, một xã, huyện, một tỉnh hoặc có thể một vài tỉnh. Sự hoài niệm quê hương và cũng để cho dễ có điều kiện nhận biết, liên hệ với nhau, thường thì xứ, họ đạo mới lấy tên địa danh ngoài Bắc đặt tên cho xứ, họ đạo Công giáo mới. Có những làng già nửa thậm chí là hơn thế di cư vào Nam, sống cụm lại với nhau lấy tên là làng cũ đặt tên cho họ đạo mới ví dụ họ Tân Sa Châu là cư dân của làng Sa Châu (Nam Định) di cư vào.

Họ đạo Phát Diệm là cư dân gom lại của giáo phận Phát Diệm. Họ đạo Bùi Phát là cư dân tập hợp của hai giáo phận Bùi Chu và Thái Bình v.v… Linh mục chánh xứ là linh mục miền Bắc di cư vào. Linh mục Cao Văn Luận, người có công trong việc dàn xếp đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam, nhận xét về khối người Công giáo di cư 1954 như sau: “Chính số người di cư lúc bấy giờ đã làm bừng dậy tinh thần dân tộc, lòng thương yêu rộng lớn, tình đoàn kết chân thật và tạo được khối quần chúng thuần nhất ủng hộ ông Diệm”.(5)

Ngay từ những ngày đầu được đưa về miền Nam, Ngô Đình Diệm đã thực hiện ý định mà ông ta từng ấp ủ là thành lập một đảng chính trị đối lập với Đảng Lao động Việt Nam, một chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam được thành lập từ năm 1930, được gọi là đảng Cần lao – Nhân vị (hay đảng Cần Lao) (sẽ trình bày ở phần dưới đây). Chính quyền Ngô Đình Diệm tuy không tuyên bố lấy Công giáo làm quốc đạo nhưng những gì diễn ra cho thấy đó là một chính quyền căn bản dựa trên Công giáo cả về hệ tư tưởng lẫn lực lượng vật chất. Trong khi đề cao Công giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm lại kỳ thị các tôn giáo khác, chủ yếu là Phật giáo. Chỉ thị số 10 của Phủ Tổng thống (Diệm), lấy lại Đạo dụ của chế độ thuộc địa, quy. định: “Tất cả các hiệp hội tôn giáo, văn hóa, thể dục, chỉ trừ Công giáo, không được quyền mua các bất động sản nếu không có phép riêng của Phủ Tổng thống”. Bản văn của Đạo dụ đặt Công giáo ra ngoài, các tôn giáo khác trong đó có Phật giáo bị hạ xuống hàng các hiệp hội văn hóa thể thao.

Đây rõ ràng là chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Trở lại vấn đề đảng Cần lao - Nhân vị (đảng Cần lao). Đây là một đảng chính trị do Ngô Đình Diệm lập ra với học thuyết Duy linh – Nhân vị.

Chủ nghĩa Duy linh – Nhân vị là một lý thuyết, một triết lý gồm 2 phần: Chủ nghĩa Duy linh và chủ nghĩa Nhân vị.

Chủ nghĩa Duy linh

Bao gồm những quan điểm chung nhất về giai cấp thống trị, về thế giới và con người, tức nhân vị.

Chủ nghĩa Nhân vị

Là những quan niệm chung của giai cấp thống trị về con người và xã hội, trên cơ sở những tư tưởng, nền tảng của chủ nghĩa Duy linh.

Về một số quan hệ của Công giáo với thuyết Nhân vị và Đảng Cần lao Nhân vị, Linh mục Trần Tam Tỉnh viết: “(Ngô Đình Diệm) chỉ chấp nhận một đảng duy nhất là Cần lao, được thành lập và khuynh loát bởi ông em Ngô Đình Nhu, làm nòng cốt cho cái ông gọi là Phong trào Cách mạng quốc gia. Phong trào này được tổ chức theo cơ cấu của một chính thể quốc gia, có tất cả bộ chân rết như bộ máy chính quyền từ trên xuống dưới khiến bất cứ ai muốn được thành tỉnh trưởng, quận trưởng, xã trưởng, giáo sư hay công chức, đều phải là đảng viên Cần lao. Hệ tư tưởng của Đảng và của phong trào là “thuyết vị nhân”. Chỉ có một trường đào tạo duy nhất là “Trung tâm đào tạo nhân vị”, do một người anh của Tổng thống là Giám mục địa phận Vĩnh Long, Ngô Đình Thục sáng lập. Là Công giáo hay không bất kỳ, tất cả công chức đều phải qua một khóa học tập ít nhất là một tháng tại đó. Các lớp học đều do các linh mục đảm nhiệm, nhồi nhét những khái niệm về nhân bản con người được Thiên Chúa sáng tạo, giảng về những điều lầm lạc của Phật giáo, Khổng giáo, về các tội ác của Cộng sản… Cuộc “tẩy não” này do chính các linh mục thực hiện. Họ là những người chỉ biết có triết học kinh viện Tây Âu và “đã tiếp thụ tại Rôma các khái niệm về Phật giáo do các cố cựu Thừa sai dạy cho” (Lời thú nhận của Giám mục Thục)(6).

Cần nhấn mạnh rằng Công giáo trước Cộng đồng Vatican II (1962-1965) không chấp nhận các tôn giáo khác ngoài nó. Công cuộc truyền giáo phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam từ buổi đầu và sau đó là hàng mấy thế kỷ thuộc về các Thừa sai (linh mục nước ngoài) đến truyền bá và rao giảng. Trong não trạng của các Thừa sai đều coi Phật giáo và các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là tà đạo, đạo rối, đạo của ma quỷ. Và dĩ nhiên là họ gạt ra ngoài. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến chính sách cấm đạo của nhà nước phong kiến Lê – Nguyễn, đặc biệt là các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn dù “có những hạt nhân hợp lý” nhưng đã không hợp lòng dân, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Di hại mà chính sách này để lại trong lịch sử là hết sức nặng nề. Có thể nói đây là một bài học lịch sử về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách đoàn kết tôn giáo trong đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ở một đoạn khác trong cuốn “Thập giá và lưỡi gươm”, Linh mục Trần Tam Tỉnh nhận xét: “Từ năm 1955 đến năm 1963 là thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng có bao nhiêu, nhưng với những hà lạm gây nhiều tiếng tăm hơn, nhất là trong khi dân chúng gồm 90% là ngoài Công giáo mà bị kìm hãm dưới một thứ “Chính phủ Công giáo”. Khắp nơi, ở thành phố cũng như tại nông thôn chiếc áo chùng thâm là biểu tượng của quyền thế”(7).

Tác giả Chu Bằng Lĩnh, trong cuốn Đảng Cần lao viết: “Những chiến sĩ Công giáo ở trong nước có ý định lập một đảng chống Cộng tích cực, lấy tên đảng Cần lao để đối chọi với Đảng Lao động Việt Nam. Một số chiến sĩ Công giáo lưu vong, trong đó có ông Ngô Đình Diệm tại Nữu Ước và Ba Lê lại có ý định lập đảng lấy chủ thuyết nhân vị làm nền tảng. Chủ thuyết nhân vị này không phải là một sáng kiến mới mẻ gì trong lĩnh vực triết học, mà nó đã có từ hàng thế kỷ trước trong lập thuyết của Thiên Chúa giáo”(8).

Đảng Cần lao trên thực tế được chia làm 3 vùng. Ngô Đình Cẩn, một kẻ ít học nhưng khét tiếng chống Cộng tự coi mình là lãnh tụ tổ chức đảng Cần lao tại miền Trung. Đảng Cần lao tại Sài Gòn và những nơi có dân Công giáo di cư miền cao nguyên được coi là đảng Cần lao Ngô Đình Nhu. Còn một đảng Cần lao nữa tại vùng địa hạt Vĩnh Long đó là đảng Cần lao Ngô Đình Thục.

Các tỉnh ở miền Trung nhất là ở vùng Thừa Thiên Huế, đảng Cần lao của Ngô Đình Cẩn không phát triển mạnh được vì gặp phải lực lượng Phật giáo và lực lượng các đảng phái như Quốc dân đảng, Tân Đại Việt… Vào thời kỳ phát triển nhất số lượng đảng viên của Cần lao là 300.000 người.(9) Số lượng đảng viên này phần lớn được Cẩn phát triển ở các xứ, họ đạo Công giáo, một phần là do Cẩn và bọn đàn em mở rộng phát triển ra các làng Lương (làng mà ở đó cư dân vừa có thể theo Phật giáo hoặc chỉ có cảm tình với Phật giáo chủ yếu là thờ cúng ông bà). Thời kỳ này người ta thấy ở miền Trung rất nhiều làng cải đạo gia nhập Công giáo để tránh những hệ lụy. Nhiều nhân vật “người Lương” muốn được tiến thân cũng phải gia nhập đảng nghĩa là cải đạo theo Công giáo. Không ít cơ sở thờ tự của Phật giáo và các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống bị phá bỏ, thay vào đó là cơ sở thờ tự của Công giáo. Trong thời kỳ này Nguyễn Văn Thiệu người mà sau đó ít năm được làm Tổng thống của “nền đệ nhị cộng hòa” đã “bỏ đời theo đạo” vào đảng Cần lao rắp tâm mưu tính cho những nấc thang chính trị.

Phát triển đạo để phát triển đảng viên đảng Cần lao, việc làm của Ngô Đình Cẩn thích hợp với đường hướng “mở rộng nước Chúa” của Giáo hội Công giáo. Ngô Đình Cẩn có lần nói trước mọi người “Tất cả việc Cẩn làm ở miền Trung đều là vì Chúa và Giáo hội”.(10)

Mục đích hành động của Cần lao Ngô Đình Cẩn có thể tóm tắt được bằng khẩu hiệu: “Ba chống, ba vâng”.

- Chống cộng sản, chống Phật giáo, chống đảng phái quốc gia.

- Vâng lời các Cha, vâng lời Cẩn, vâng lời Diệm.

Phát triển đảng vào quân đội, Cẩn thực sự lúng túng về lý thuyết, nhân cơ hội đó Giám mục Phạm Ngọc Chi âm mưu biến Cần lao thành đảng của Công giáo. Khẩu hiệu hành động “Ba chống, ba vâng” được thay bằng khẩu hiệu “Vì Chúa và cho Giáo hội”.

Coi các tôn giáo khác là hiệp hội, đề cao Công giáo với một “chính quyền Công giáo”, biến đảng Cần lao thành đảng của Công giáo, chính quyền Sài Gòn thực sự là một chính quyền bóp nghẹt tự do tôn giáo. Một chính sách đi ngược với truyền thống của dân tộc Việt Nam và thời đại. Đó là nguyên nhân quan trọng đầu tiên dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền này.

Nhưng còn một nguyên nhân khác cần được nhắc đến đó là việc chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tôn giáo trong đó có đàn áp Phật giáo. Đây là hệ quả tất yếu của chính sách kỳ thị tôn giáo.


PGS. TS. Nguyễn Hồng Dương
Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Tham luận tại Hội thảo Khoa học 50 năm Phong trào Phật giáo miền Nam 1963-2013 tại Bình Dương ngày 11/06/2013

------------

1. Huỳnh Lý: Mỹ-Diệm và đạo Thiên Chúa ở miền Nam, Nxb Phổ thông, Hà Nội, 1962, tr.1.
2. Huỳnh Lý: Mỹ-Diệm và đạo Thiên Chúa ở miền Nam, Sđd, tr.1.
3. Nguyễn Đức Lộ: Cơ cấu tổ chức, sinh hoạt theo giáo xứ của người Công giáo di cư năm 1954 tại Nam Bộ (Nghiên cứu trường hợp Hố Nai, Đồng Nai và Cái Sắn, Cần Thơ). Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12-2012, tr.38.
4. Linh mục Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, 1988, tr.113.
5. Cao Văn Luận: Bên dòng lịch sử, Sài Gòn, 1972, tr.253
6. Linh mục Trần Tam Tỉnh. Thập giá và lưỡi gươm. Sđd, tr.122-123.
7. Linh mục Trần Tam Tỉnh. Thập giá và lưỡi gươm. Sđd, tr.124.
8. Chu Bằng Lĩnh. Đảng Cần lao. Nxb Đồng Nai, 1971, tr.7.
9. Chu Bằng Lĩnh: Đảng Cần lao. Sđd, tr.316.
10. Chu Bằng Lĩnh: Đảng Cần lao. Sđd, tr.322.
11. Bùi Chu thuộc Giao Thủy (Nam Định), Phát Diệm thuộc Kim Sơn (Ninh Bình).
12. Về sau Ngô Đình Diệm không tin vào một số giáo sĩ di cư đã quay sang “sửa gáy” họ. Một linh mục bị Diệm kết tội buôn lậu, đem ra tòa xử. Hoàng Quỳnh được giải ngũ về xứ trông nom chiên Chúa. Lê Hữu Từ không còn vai trò gì, lui về giữ một chức vụ có tiếng mà không có thực quyền “Chủ tịch Trung tâm tôn giáo”. Báo Đời sống của Phạm Ngọc Chi bị đóng cửa. Linh mục chủ bút bị ra tòa lãnh án 18 tháng tù.
13. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm. Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr.473
14. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr.476.
15. Bồ Đề Tân Thanh, Nguyễn Đại Đồng: Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1981. Nxb Văn học, 2011, tr.333, 334

Tags:

Lưu ý: Khi để lại Nhận xét bạn nên click vào ô "Thông báo cho tôi" ở dưới để nhận phản hồi từ Admin

Thể thao

Trong nước

Quốc tế

Giáo dục

Kỷ nguyên số

Công nghệ

Tuyệt chiêu

Văn hóa

Điện ảnh

Giải trí

Sự kiện bình luận

Sức khỏe

Bạn đọc

Bạn đọc viết

Ý kiến bạn đọc

Loading...
Copy

Tiêu điểm