Đăng bởi Đấu trường Dân chủ lúc January 11, 2017 , 0 bình luận

Nhiều nhà nghiên cứu, trong và ngoài nước cùng thực tiễn lịch sử hơn 70 năm  qua đã chứng minh tính đúng đắn của quyết định “Ngày toàn quốc kháng chiến-19/12/1946”. Thế nhưng vẫn còn những kẻ, những thế lực không hiểu hoặc cố tình không hiểu tính đúng đắn đó mà xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử.


Trên một số trang web và diễn đàn, mạng xã hội gần đây, không ít người đã nhắc lại quan điểm không mới của họ, rằng: Phát động “Toàn quốc kháng chiến” là nhằm vứt bỏ cái dằm tạm ước 6-3; là cái cớ để vu cho Pháp là kẻ xâm lược; là thể hiện sự hiếu chiến của chúng ta; nếu không phát động Toàn quốc kháng chiến thì chúng ta sẽ tránh được cuộc chiến tranh, sẽ giành được độc lập một cách hòa bình,…

Lời kêu gọi "Toàn quốc kháng chiến"

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Thực tiễn lịch sử từ khi dựng nước đến nay, dân tộc Việt Nam chưa bao giờ đi xâm lược nước khác nếu không bị đe dọa xâm lược; mà chúng ta chỉ đánh lại những kẻ xâm lược đến từ đất nước khác và cũng chỉ đánh khi không thể đừng được. Chúng ta luôn mong muốn được sống trong hòa bình, được sống trong sự yên ổn. Trước cách mạng tháng 8-1945, dân tộc Việt thường xuyên phải chống lại những cuộc xâm lược, đô hộ của các chế độ phong kiến phương Bắc, sau đó là sự đô hộ của thự dân Pháp. Những tưởng sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự do. Nhưng không, thực tế thực dân Pháp đã tìm mọi cách quay trở lại đô hộ Việt Nam. Trong tình thế lực lượng còn non trẻ, cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, đều có rắp tâm thôn tính nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp. Chúng ta đã nhượng bộ, chấp nhận nền độc lập hạn chế và nền thống nhất có điều kiện, ký với Pháp hòa ước 6-3, rồi tạm ước 14-9 những mong rằng người Pháp sẽ thấu hiểu mong muốn hòa bình của chúng ta.  Mong muốn đó của dân tộc Việt Nam thực tế đã không được thực dân Pháp đếm xỉa đến. Tổng thống Pháp Ph.Mít-tơ-răng (F.Mitterand), trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam vào tháng 2-1993, đã trả lời các nhà báo rằng: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại, nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh bị đẩy vào cuộc chiến tranh”.

“Toàn quốc kháng chiến” là điều không mong muốn, nhưng cũng không thể làm khác. Trong tình thế cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã tỉnh táo, tìm cách loại bớt kẻ thù (cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc để đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi) bằng hiệp ước Sơ bộ 6-3, vừa để có thời gian chuẩn bị lực lượng trong trường hợp không thể tránh khỏi một cuộc chiến tranh. Khi đàm phán ở Pháp bị đổ vỡ, Hồ chủ tịch, khi đó là khách của chính phủ Pháp, vẫn thể hiện mong muốn hòa bình của dân tộc Việt Nam bằng cách ký tạm ước 14-9. Ở phía ngược lại, người Pháp vẫn tăng quân ở miền Bắc Việt Nam, đưa ra các yêu sách vô lí và cuối cùng là đưa ra tối hậu thư đòi tước vũ khí của quân, dân ta; người Pháp quyết dùng vũ lực để thôn tính Việt Nam một lần nữa. Rõ ràng để có hòa bình, độc lập, tự do, không còn con đường nào khác, dân tộc Việt Nam phải chấp nhận hy sinh, đổ máu đứng lên cầm vũ khí đánh đuổi thực dân Pháp.

“Toàn quốc kháng chiến” thể hiện sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, thể hiện tính đúng đắn của một quyết định lịch sử. Sức mạnh đại đoàn kết được thể hiện bằng việc chỉ với vũ khí thô sơ, tự tạo cùng với ý chí quyết tâm cao độ quân, dân Hà Nội đã kìm giữ quân Pháp trong suốt hai tháng, không cho chúng đánh lan ra các khu vực lân cận, làm vỡ kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của chúng; đó còn là việc người dân Hà Nội sẵn sàng bỏ tất cả tài sản, vật dụng trong gia đình, dựng lên các chiến lũy trên đường phố để ngăn bước chân quân thù, đánh đuổi thực dân Pháp. Với mục tiêu giành độc lập, tự do cho dân tộc, bằng đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi, thu hút được nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước ở trong nước cũng như ở nước ngoài đi theo Đảng, đi theo kháng chiến, mang hòa bình, độc lập cho đất nước, dân tộc như các cụ Bùi Bằng Đoàn,  Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Phú Thứ,…; như Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch,…
Toàn quốc kháng chiến, quyết bảo vệ độc lập, tự do là mệnh lệnh của non sông, của truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Ngày “Toàn quốc kháng chiến” đã lùi xa, song tinh thần “Thà hy sinh tất cả”, “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” vẫn còn mãi mãi trong mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam, vẫn còn hừng hực trong tim mỗi người con yêu nước của dân tộc Việt.


NVM (chiasekienthucnet)

Tags:

Lưu ý: Khi để lại Nhận xét bạn nên click vào ô "Thông báo cho tôi" ở dưới để nhận phản hồi từ Admin

Thể thao

Trong nước

Quốc tế

Giáo dục

Kỷ nguyên số

Công nghệ

Tuyệt chiêu

Văn hóa

Điện ảnh

Giải trí

Sự kiện bình luận

Sức khỏe

Bạn đọc

Bạn đọc viết

Ý kiến bạn đọc

Loading...
Copy

Tiêu điểm