Đăng bởi Đấu trường Dân chủ lúc February 9, 2017 , 0 bình luận

(chiasekienthucnet)-Phong trào quốc tế ủng hộ Việt Nam chống Mỹ bắt đầu từ khi Mỹ can thiệp Việt Nam, sau Hiệp định Geneve (1954). Trong thời gian đầu, sự ủng hộ đó còn giới hạn ở một số nước, chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa. Khi Mỹ tăng cường can thiệp và leo thang chiến tranhViệt Nam cũng là lúc chính quyền Mỹ phải đối mặt với thực trạng phong trào chống Mỹ của nhân dân thế giới, thậm chí sự chống đối đó xuất hiện ngay lòng nước Mỹ. Đặc biệt từ sau thất bại Mậu Thân 1968 của Mỹ, phong trào quốc tế chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam lại bùng lên mạnh mẽ, hoạt động liên tục  và trở thành một mặt trận đoàn kết toàn thế giới.



Sau khi Mỹ tuyến bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom, bắn phá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1-11-1968), khẩu hiệu đòi rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam liên tục vang lên trong nhiều cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ. Ở các nước tư bản chủ nghĩa Tây Âu và Bắc Âu, những hành động phiêu lưu quân sự, leo thang chiến tranh của Mỹ ở hai miền Nam - Bắc Việt Nam bị lên án mạnh mẽ. Ngay các nước đồng minh thân Mỹ (trừ Nam Triều Tiên) cũng thường xuyên diễn ra nhiều hình thức đấu tranh chống chiến tranh Việt Nam, đòi rút quân đội các nước này ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Quân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Ảnh khai thác

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liên tiếp được nhiều nước trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức: Vương quốc Thụy Điển (thiết lập ngoại giao cấp đại sứ ngày 11-1-1969, Cộng hòa dân chủ Soudan (26-8-1969), Cộng hòa Sénégal (29-12-1969), Cộng hòa dân chủ Somali (7-6-1970), Vương quốc Na Uy và  Vương quốc Đan Mạnh (25-11-1970), Cộng hòa Chile (1-6-1972), Cộng hòa thống nhất Cameroon (3-8-1972), Cộng hòa Hồi giáo Pakistan (8-11-1972), Cộng hòa Áo (1-12-1972), Cộng hòa Phần lan (25-1-1973)...

Từ ngày thành lập 6-6-1969 đến năm 1971,  Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có 25 quốc gia công nhận và quan hệ công khai dưới nhiều hình thức với gần 60 thực thể chính trị, lãnh thổ, phong trào giải phóng và tổ chức phi chính phủ với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam. Chính phủ cách mạng lâm thời cũng sớm trở thành thành viên của Phong trào Không liên kếtn (8-1972), khẳng định uy tín của mình trên trường quốc tế.

Những bước phát triển trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam với nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới đã góp phần thúc đẩy xu hướng chống Mỹ, chống chủ nghĩa đế quốc nói chung, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nói riêng ngày càng một dâng cao ở nhiều nước nhiều khu vực trên thế giới, tác động tích cực, trực tiếp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Năm 1972, một loạt hội nghị quốc tế ra tuyên bố ủng hộ Việt Nam, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và chiến tranh Đông Dương như Hội nghị thế giới vì hòa bình và độc lập của nhân dân Đông Dương (13-2-1972) tổ chức tại Versailles (Pháp) với sự tham gia của 1200 đại biểu đến từ 84 nước; Hội nghị bộ trưởng các nước Bắc Âu (2-9-1972); Hội nghị Ủy ban quốc tế điều tra tội ác chiến tranh của MỹViệt NamĐông Dương (từ ngày 10 đến 16-10-1972) tổ chức tại Copenhaghen (Đan Mạch)... Chưa kể đến tại diễn dàn Đại hội đồng Liên hợp quốc hàng năm, phần lớn các nước đều lên án mạnh mẽ hành động kéo dài, mở rộng chiến tranh của MỹViệt Nam, v.v... Đặc biệt, Hội nghị bộ trưởng ngoại giao các nước Không liên kết họp tại Georgetown (thủ đô Guyanna) đã nhất trí thông qua nghị quyết lên án Mỹ, đòi Mỹ phải đáp ứng những đề nghị hòa bình được phía Việt Nam đưa ra ở Hội nghị Paris. Đây cũng là minh chứng sinh động về sự gắn kết chặt chẽ giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam với phong trào chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ dân sinh và tiến bộ xã hội trên thế giới tạo thêm sức mạnh cho cách mạng Việt Nam trên bàn đàm phán Paris.

Phong trào chống chiến tranh trở thành “cuộc chiến trong lòng nước Mỹ”

Sau Mậu Thân 1968, trước sức ép của dư luận Mỹthế giới, một mặt Mỹ buộc phải rút dần quân viễn chinh về nước, nhưng mặt khác Học thuyết Nixon” và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh” lại được thi hành, thậm chí  Mỹ còn mở rộng chiến tranh sang LàoCampuchia. Hiểu thực chất của chính sách “tìm kiếm hòa bình” của Tổng thống Nixon, từ năm 1969 đến năm 1972, phong trào chống chiến tranhMỹ có bước phát triển mới với những bước tiến mới. Phong trào chống chiến tranh ngày càng dâng cao, lan rộng và thấm sâu vào các tầng lớp xã hội Mỹ, thu hút cả những chính khách nổi tiếng, trong chính giới và giới cầm quyền.

Một số sự kiện tiêu biểu:

 Ngày 15-11-1969, một cuộc biểu tình  lớn diễn ra ở nhiều thành phố lớn nước Mỹ, thu hút hàng triệu người, riêng ở Washington có 250.000 người tham gia, ở San Francisco có 125.000, New York có 100.000 người tham gia biểu tình đòi chính phủ Mỹ phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh Việt Nam 1 [Josep A. Amter (1985), Lời phán quyết về Việt Nam - Vietnam Verdict: A Citizen’s History Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội tr 335].

Ngày 1-5-1970 một chiến dịch biểu tình của sinh viên Đại học Kent State bang Ohio phản đối cuộc hành quân vào Campuchia của Mỹ. Chính quyền đã đưa binh lính đến đàn áp và làm 4 người chết, 9 người  bị thương (4-5-1970). Bầu không khí tang thương đã thổi bùng ngọn lửa phản chiến trong sinh viên. Một số trương đại học đã đóng cửa đến mùa thu năm 1970.

Ngày 25-1-1971, Thượng nghị sĩ Mỹ M.C Govern khẳng định: “Việt Nam hóa không phải là một công thức chấm dứt giết chóc ở Việt Nam mà là một kế hoạch để duy trì chiến tranh bằng cách làm dịu sự chỉ trích ở Mỹ”. Chính vì vậy, ông đã yêu cầu chính quyền Nixon “phải hoàn thành việc rút quân khỏi miền Nam Việt Nam vào cuối năm 1971”...

 Từ mùa hè 1971, những cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn diễn ra liên tục khắp các bang trên đất Mỹ với nhiều hình thức đấu tranh phong phú (từ ôn hòa, hợp pháp đến bạo động), tập trung vào việc đòi chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh, phê phán việc Mỹ hậu thuẫn cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu... Cuộc xuống đường biểu tình diễn ra ở 1.200 thành phố và thị trấn trong cả nước Mỹ, thu hút hàng triệu người. Sinh viên đấu tranh chống đăng ký quân dịch, binh sĩ đấu tranh đốt thẻ quân dịch. Phong trào lan rộng sang đông đảo binh sĩ và thanh niên Mỹ. Tháng 4-1971, theo số liệu chính thức của Quốc hội Mỹ, có hàng chục vạn thanh niên Mỹ chạy sang các nước Canada, Tây Đức, Thụy Điển… nhằm trốn quân dịch, 13.000 thanh niên Mỹ bị tòa kết án do trốn quân dịch; 93.000 lính Mỹ trẻ đào ngũ bị truy tố. Nạn đào ngũ trong binh lính Mỹ ngày càng lan rộng tới mức trở thành một bất ngờ lớn đối với Bộ Quốc phòng Mỹ. Họ cho rằng “thà ngồi tù còn hơn là sang tham chiến ở Việt Nam”. Theo số liệu của Lầu Năm Góc, chỉ trong 10 tháng (từ tháng 7-1970 đến tháng 4-1971), số binh sĩ Mỹ bỏ trốn đã lên tới 68.449 người – tương đương với 4 sư đoàn.

 Ngày 12-6-1971, Hạ viện Mỹ thông qua dự luật buộc chính quyền Nixon phải chấm dứt sự dính líu của mỹ ở Việt Nam, Thượng viện Mỹ cũng thông qua dự luật yêu cầu rút hết quân Mỹ ra khỏi Việt Nam trong vòng 9 tháng.
 Ngày 14-11-1971, Hội nghị sinh viên quốc tế và sinh viên Mỹ tổ chức tại Washington lên án chính quyền Nixon “giả dối về giảm chiến sự trên lời nói, nhưng kéo dài chiến tranh trên thực tế”. Hội nghị ra tuyên bố công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất, hợp pháp của nhân dân miền Nam và quyết định tiến hành các biện pháp ủng hộ Việt Nam.

- Trong những năm 1971 - 1972, hàng ngàn bà mẹ Mỹ đã gửi kiến nghị cho Chính phủ đòi đưa con em họ từ chiến trường Việt Nam về nước. Thẩm phán Tòa án tối cao Mỹ Wililam Douglas chỉ rõ “chiến tranh Việt Nam là trái với hiến pháp Mỹ, vì Quốc hội chưa tuyên chiến”. Nhiều nghị sĩ trong Quốc hội Mỹ, chính khách, văn nghệ sĩ... tham gia vào đội ngũ chống chiến tranh Việt Nam, đòi đẩy mạnh đàm phán ở Paris để sớm đi đến thỏa thuận chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bìnhViệt NamĐông Dương. Nhà bình luận chính trị nổi tiếng nước Mỹ Walter Lipmann cho rằng “lương tâm của người Mỹ nổi giận” và “cuộc chiến tranh của người Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh không được lòng dân nhất trong lịch sử nước Mỹ”...

- Ngày 6-5-1972, Thượng viện Mỹ thông qua dự luật cắt giảm chi phí quân sự trong vòng 9 tháng, để tăng thêm sức ép buộc Chính phủ phải sớm đưa ra cam kết rút hết quân viễn chinh, chấm dứt ủng hộ chính quyền Sài Gòn và tích cực giải quyết những vấn đề cơ bản trên bàn đàm phán tại Paris.v.v..


Phong trào chống chiến tranh không chỉ tác động trực tiếp đến đời sống chính trị - xã hội ngay tại Mỹ mà còn tạo ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ công khai phản chiến của một bộ phận binh lính Mỹ đang có mặt trên chiến trường Nam Việt Nam. Đó là nguy cơ của sự xói mòn quân kỷ, sa sút tinh thần trong quân đội Mỹ dẫn đến nhiều hành động cực đoan, tuyệt vọng trong binh lính Mỹ.  theo công bố của Bộ Quốc phòng Mỹ, từ năm 1969 đến năm 1972, có 788 binh lính giết sĩ quan trong quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Còn nữa
TĐC (dautruongdanchu.com

Tags:

Lưu ý: Khi để lại Nhận xét bạn nên click vào ô "Thông báo cho tôi" ở dưới để nhận phản hồi từ Admin

Thể thao

Trong nước

Quốc tế

Giáo dục

Kỷ nguyên số

Công nghệ

Tuyệt chiêu

Văn hóa

Điện ảnh

Giải trí

Sự kiện bình luận

Sức khỏe

Bạn đọc

Bạn đọc viết

Ý kiến bạn đọc

Loading...
Copy

Tiêu điểm