Đăng bởi TIN ĐẤU TRƯỜNG DÂN CHỦ lúc February 7, 2017 , 0 bình luận

(chiasekienthucnet)-Từ năm 1964 đến đầu năm 1965, cuộc đấu tranh cách mạng của lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam phát triển nhanh chóng và ngày càng thu được những kết quả to lớn, khiến cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ bị thất bại nghiêm trọng. Trước tình hình ấy đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng đánh phá bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. Chiến tranh Việt Nam đã thành điểm nóng, nơi đụng đầu của hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa, thu hút sự quan tâm chú ý của quốc tế. Nhiều quốc gia và nhân sĩ tiến bộ trên thế giới đều e ngại Việt Nam không thể đương đầu được với Mỹ và chiến tranh sẽ lan rộng thành chiến tranh thế giới.



Trước yêu cầu mới của cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức nhiều hội nghị, trong đó có Hội Nghị lần thứ 12 (12-1965) đánh giá về bối cảnh tình hình, về tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng Việt Nam và Mỹ để hạ quyết tâm đánh Mỹ. Việc đánh giá tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng và Mỹ được Đảng dựa trên cơ sở khoa học biện chứng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu  trong phiên họp bế mạc hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Chiều ngày 27 tháng 12 năm 1965 (Ảnh tư liệu)

Thứ nhất, Đảng đã nhìn nhận, phân tích một cách khoa học trong mối quan hệ biện chứng về quan hệ tương quan so sánh giữa thế và lực.
Quy luật thắng hay bại trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào đều tuỳ thuộc rất lớn vào sự biến đổi tương quan so sánh lực lượng. Khi đưa ra quyết tâm đánh Mỹ, Đảng đã xem xét, đánh giá hết sức cẩn trọng so sánh lực lượng cả hai bên một cách toàn diện trong quá trình vận động và phát triển của phép biện chứng.
Xem xét mối quan hệ giữa thế và lực giữa cách mạng, Mỹ vào những năm 1964  - 1965, Đảng đã đánh giá đúng hình thái bố trí của lực mà hai bên đang triển khai, hoạt động trên thực tế chiến trường và khả năng, xu hướng vận động của nó. Trong mối quan hệ đó thì thế là cái quyết định. Đảng  thấy thế cách mạng thắng đã rõ ràng, thế Mỹ thua cũng đã rõ ràng. Với thế thắng, cách mạng có thể phát huy được sức mạnh tổng hợp, luôn giữ quyền chủ động đánh Mỹ. Do đó, Mỹ tuy có tăng nhiều quân và phương tiện, cũng không làm cho lực của Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam thêm mạnh, và dù có đưa bao nhiêu quân cũng không làm chuyển biến được tình hình so sánh lực lượng có lợi cho Mỹ.
Trong quá trình “leo thang” chiến tranh ở Việt Nam, điều chủ yếu mà Mỹ lo tính là lực lượng so sánh giữa Mỹ và hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Mỹ rất lo ngại phải sa lầy vào một cuộc chiến tranh có lực lượng của các nước Xã hội chủ nghĩa tham gia. Qua nghiên cứu, tìm hiểu các đồng minh chiến lược của Việt Nam, Mỹ biết rõ điều đó không thể xảy ra, cho nên Mỹ tin chắc rằng lực lượng cả hai miền Nam - Bắc không thể nào đương đầu nổi với lực lượng to lớn và hùng mạnh của Mỹ.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra trong chiến tranh là không phải cứ nước lớn, đông dân, nhiều quân, có tiềm lực kinh tế - quân sự dồi dào, thì nhất định sẽ hình thành thế và lực mạnh hơn đối phương mà cuộc chiến tranh nào chính nghĩa, có đường lối, phương pháp và nghệ thuật quân sự đúng đắn, lại được lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới đồng tình ủng hộ, thì sẽ tạo được ra thế và lực mạnh để đánh thắng đối phương.
Khi tiến hành “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ không thể tự tạo được cho mình những điều kiện ấy. Mặc dù Mỹ có tiềm lực kinh tế và quân sự  mạnh hơn gấp bội, nhưng do tính chất và mục đích chiến tranh của Mỹ là phi nghĩa, nên tự nó bộc lộ nhiều chỗ yếu căn bản. Còn cách mạng Việt Nam lại có điều kiện và khả năng khoét sâu những chỗ yếu đó, làm cho thế và lực của Mỹ luôn bị hạn chế tối đa, không thể phát huy được tác dụng. Về mặt khách quan, Mỹ không có những điều kiện cần thiết để có thể kết hợp được thế và lực; và về mặt chủ quan, Mỹ có muốn kết hợp hai yếu tố ấy cũng không làm được. Do đó, việc Mỹ thất bại là điều tất yếu không thể tránh khỏi.
Quan điểm biện chứng của Đảng trong xem xét thế và lực  dựa trên cơ sở từ hiện tượng đến bản chất, từ cái không ổn định đến cái ổn định của tình hình để tìm ra động lực thúc đẩy sự biến đổi ấy. Trong quá trình xâm lược Việt Nam, bất kể là lúc leo thang hay xuống thang chiến tranh, bao giờ Mỹ cũng ra sức tăng cường tiềm lực quân sự, phương tiện vật chất, nhằm kéo dài và mở rộng chiến tranh với quy mô và mức độ khác nhau. Nhưng không thể từ hiện tượng ấy mà rút ra kết luận là Mỹ sẽ làm chủ được tình thế, có thể thay đổi được so sánh lực lượng theo hướng có lợi. Mà trái lại, theo Đảng, việc tăng cường lực lượng, phương tiện chiến tranh của Mỹ với việc làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho Mỹ là hai vấn đề khác nhau. Bởi vì, “đế quốc Mỹ đưa quân Mỹ trực tiếp tham gia chiến đấu ở miền Nam, trong thế chúng bị động về chiến lược, trong lúc nguỵ quân, nguỵ quyền đang có nguy cơ tan rã và sụp đổ hoàn toàn, còn cách mạng miền Nam thì đang ở trong thế tiến công cả về mặt chính trị và quân sự”[1].
Cuộc “đồng khởi” của nhân dân miền Nam từ cuối năm 1959, việc đánh đổ Diệm - Nhu năm 1963 chứng tỏ rằng Mỹ đã thất bại về mặt chính trị và một loạt chiến thắng năm 1964 - 1965 của lực lượng cách mạng miền Nam, trong đó tiêu biểu là trận Bình Giã cuối năm 1964 là cái mốc đánh dấu sự thất bại của Mỹ về mặt quân sự trong “Chiến tranh đặc biệt”.
Mỹ đưa quân vào miền Nam trong lúc cách mạng miền Nam đã triển khai lực lượng trên khắp các chiến trường. Lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam với ba thứ quân đã chiếm lĩnh trận địa và có mặt ở khắp mọi nơi. Mỹ ở vào thế bị bao vây của lực lượng cách mạng miền Nam. Dù Mỹ có cố gắng tập trung quân để phản công nhưng cũng không thể nào thoát khỏi thế bị động về chiến lược, và buộc phải chuyển vào thế chiến lược phòng ngự. Cho nên, dù Mỹ có đưa vào miền Nam bao nhiêu quân đi nữa thì tương quan lực lượng về cơ bản vẫn không thay đổi có lợi cho Mỹ và bị rất nhiều yếu tố tiêu cực tác động chi phối; trong lúc đó, thế và lực của cách mạng ngày càng lớn mạnh, quyền chủ động chiến trường đã thuộc về cách mạng. Mỹ không thể có những yếu tố cơ bản để xoay chuyển và lật ngược tình thế, không có những điều kiện biến khả năng thành hiện thực. Còn cách mạng, với thế thắng, thế đi lên, sẽ tạo ra những điều kiện để tiếp tục làm thay đổi lực lượng theo hướng có lợi cho cách mạng, bất lợi cho Mỹ. Nếu chỉ dừng ở hiện tượng Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam, và phân tích vấn đề một cách phiến diện, mà không đi sâu vào bản chất của sự vật, thì nhất định không thể rút ra những kết luận chính xác. Chính trên cơ sở tư duy biện chứng đó, mà Đảng  đã đưa ra kết luận: “Với việc đưa 20 vạn quân Mỹ vào miền Nam, hay rồi đây đế quốc Mỹ có thể tăng quân lên nữa thì tương quan lực lượng vẫn không thay đổi có lợi cho chúng”[2].
 Phân tích, xem xét quá trình leo thang và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, thấy rằng, Mỹ thực hiện leo thang từ từ, không đánh ồ ạt, quyết liệt ngay một lúc. Bởi Mỹ cũng ý thức sâu sắc được việc đang tiến hành một cuộc chiến tranh phá hoại đối với một nước Xã hội chủ nghĩa có chủ quyền, trong bối cảnh những năm giữa thập kỷ 60 của thế kỷ XX, khi tình hình so sánh lực lượng trên thế giới và ở Việt Nam đang rất bất lợi đối với chúng. Vả lại, Mỹ còn lo ngại sự can thiệp của các nước Xã hội chủ nghĩa khác, đẩy cuộc chiến tranh chuyển biến sang một chiều hướng khác. Chính vì thế mà Mỹ không dám huy động lực lượng lớn để đánh ta ngay từ đầu, mà phải sử dụng lực lượng leo thang từng bước, một cách hạn chế, vừa đe doạ, vừa gây sức ép, Hơn nữa, vì thua mà phải leo thang, và leo thang trong thế thua, thế đi xuống, nên tuy tăng cường lực lượng lớn trong các bước leo thang ấy, Mỹ vẫn không tạo ra một sự thay đổi căn bản tình hình so sánh lực lượng có lợi cho chúng. Nhiều chính trị gia nổi tiếng của Mỹ đã cảnh báo chính quyền Mỹ về điều đó.
Dựa trên cơ sở xem xét mối quan hệ biện chứng về thế và lực một cách toàn diện như vậy, Đảng ta đã khẳng “từ so sánh lực lượng giữa ta và địch, hình thái chiến trường thế và lực, mục tiêu chiến lược của đế quốc Mỹ. Từ đó, chúng ta đã đi đến kết luận là hoàn toàn có khả năng thắng đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh”[3].
Thứ hai, Đảng đã coi trọng phân tích mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, theo sát và nắm vững sự chuyển hoá giữa số lượng và chất lượng.
 Đảng đã nắm vững sự tác động biện chứng giữa số lượng và chất lượng trong khi xem xét lực lượng so sánh giữa cách mạng và Mỹ khi chúng đưa quân vào miền Nam. Đảng nhấn mạnh phải hết sức coi trọng số lượng nhưng cần đặc biệt lưu ý vấn đề chất lượng. Không xem xét kỹ đến chất lượng trong mối quan hệ ấy, thì nhất định sẽ dẫn đến sự tính toán máy móc về vấn đề tập trung binh lực đến tỷ lệ bao nhiêu để đánh thắng được Mỹ. Thật ra, chất lượng ở đây không chỉ tính toán đơn thuần về mặt quân sự, mà còn bắt nguồn sâu xa từ mục đích chính nghĩa của cuộc chiến tranh; từ sức mạnh tuyệt đối về chính trị và tinh thần của lực lượng cách mạng, từ sức mạnh vật chất của cả một dân tộc, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh của lực lượng vũ trang; từ đường lối chiến tranh đúng đắn; từ sự kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao v.v.. Tất cả những nhân tố ấy thống nhất với nhau, bổ xung, tác động lẫn nhau, tạo thành chất lượng của một tình hình so sánh cụ thể. Khi Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Đảng  đã chỉ ra rằng:
Chỗ yếu cơ bản nhất của địch từ trước đến nay vẫn là về chính trị. Quân đội viễn chinh Mỹ càng trực tiếp tham gia chiến tranh thì bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ và bộ mặt tay sai của quân đội, chính quyền Sài Gòn càng bị bóc trần, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai càng gay gắt hơn. Nhân dân cả nước ta càng đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chiến đấu để đánh đổ đế quốc Mỹ và bọn bù nhìn, giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc[4].
Việc phân tích, đánh giá so sánh lực lượng giữa cách mạng Việt Nam và Mỹ một cách khoa học trong khi Mỹ đang đưa quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam là cơ sở quan trọng nhất để Đảng quyết tâm đánh Mỹ, vững tin vào thắng lợi cuối cùng và: “chủ trương làm thất bại chính sách xâm lược của chúng, làm cho chúng không thể mở rộng và tiếp tục kéo dài chiến tranh xâm lược được nữa và phải chịu thua với những điều kiện nhất định và cuối cùng rút khỏi miền Nam nước ta”[5] “dù đế quốc Mỹ đưa 20, 25 vạn hay 30, 40 vạn quân chiến đấu vào miền Nam, chúng ta cũng có thể và nhất định đánh thắng chúng”[6].
Như vậy, việc so sánh lực lượng giữa Mỹ và cách mạng Việt Nam ở thời điểm cuối năm 1965 trong Nghị quyết Trung ương 12 của Đảng thể hiện tầm cao của tư duy và trí tuệ của Đảng trong việc vận dụng phép biện chứng duy vật Mác - Lênin. Đây là cơ sở rất quan trọng để Đảng đề ra quyết tâm đánh Mỹ với niềm tin chắc thắng.
TĐC (dautruongdanchu.com)



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26 Nxb Chính trị quốc gia, H, 2003 tr 577
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26 Nxb Chính trị quốc gia, H, 2003 tr 579.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26 Nxb Chính trị quốc gia, H, 2003 tr 576
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của BCHTƯ ngày 27 tháng 12 năm 1965 về tình hình nhiệm vụ mới” Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2003, tr.629.
[5]  Đảng Cộng sản Việt Nam, “Bài nói của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ Nhất BCHTƯ tại Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương”, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26 Nxb Chính trị quốc gia, H, 2003, tr 588.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Bài nói của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ Nhất BCHTƯ tại Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương”, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 26, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, tr.568

Tags:

Lưu ý: Khi để lại Nhận xét bạn nên click vào ô "Thông báo cho tôi" ở dưới để nhận phản hồi từ Admin

Thể thao

Trong nước

Quốc tế

Giáo dục

Kỷ nguyên số

Công nghệ

Tuyệt chiêu

Văn hóa

Điện ảnh

Giải trí

Sự kiện bình luận

Sức khỏe

Bạn đọc

Bạn đọc viết

Ý kiến bạn đọc

Loading...
Copy

Tiêu điểm