Đăng bởi Đấu trường Dân chủ lúc March 8, 2017 , 1 comment

(chiasekienthucnet)-“Người Mỹ đã không bao giờ hiểu sức mạnh của phụ nữ,” một người đàn ông có tên Sáu Đồng từng nói với nhà văn Mỹ Lady Borton nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc. “Phụ nữ chính là những người mua và bán. Họ đưa tin cho chúng tôi. Phụ nữ từng giữ vai trò quan trọng trong Đồng Khởi (nổi dậy năm 1960) và cả Tết Mậu Thân.”.

Borton, một tín đồ trẻ phái giáo hữu từ miền Tây nước Mỹ, đến Việt Nam năm 1969 để tham gia vào phong trào hòa bình tại một trại điều dưỡng giúp người dân địa phương làm chân tay giả cho những dân thường bị què cụt. Trung tâm đó nằm ở Quảng Ngãi, phía Nam Việt Nam. Bà đã học tiếng Việt và có một số dịp gặp mặt với những phụ nữ mà bà nghi ngờ là ủng hộ cho Việt Cộng. Nhưng chỉ khi trở lại sau chiến tranh, trong khoảng cuối thập niên 1980, bà mới nhận ra mình đã quá khờ khạo không  nhận ra vai trò trung tâm của họ trong hoạt động gián điệp, liên lạc và mạng lưới thông tin của miền Bắc Việt Nam - Việt Cộng.

Nữ dân quân tải đạn trong kháng chiến chống Mỹ (Ảnh Tư liệu)


Phỏng vấn một nhóm phụ nữ ở Bàn Long, bà Borton đã hỏi những ai trong làng từng liên quan đến lực lượng phản kháng. “Họ đã cười vào mặt tôi,” bà kể: “Chúng tôi đã ngồi ở một gian phòng, và tất nhiên chỉ có tôi là người ngoại quốc, và họ nói ‘À, tất cả chúng tôi.’”.

Một người phụ nữ có tên là Hai Mùa, đã giải thích về công việc của họ: “Chúng tôi đã làm tất cả. Chúng tôi leo núi, chúng tôi nấp dưới những con sông. Chúng tôi bắt giữ tù nhân. Chúng tôi mang đạn dược. Chúng tôi tự học cách sử dụng vũ khí. Chúng tôi chỉ đường cho du kích khi họ muốn tấn công căn cứ của Mỹ tại Bình Đức. Chúng tôi là những người chỉ đường, chúng tôi là gián điệp.”

Những phụ nữ này cho bà Borton biết là binh lính của Mỹ tin rằng bất cứ ai mặc áo đen là Việt Cộng, nên họ có thể qua mặt những người Mỹ một cách dễ dàng bằng cách mặc áo màu trắng. Một phụ nữ tên Chín Hồng cho bà Borton biết rằng mình có rất nhiều phục trang: một số ngày bà ấy sẽ cải trang là cô giáo trong những ngày khác bà ấy mặc quần áo rách rưới giả làm người bán rau.

“Chúng tôi xây các đường hầm và đào chiến hào,” Hai Mùa kể tiếp. “Chúng tôi là những người trinh sát, chúng tôi là tuyến cung cấp. Chúng tôi đưa thư và bản đồ. Chúng tôi lập hệ thống thông tin liên lạc. Chúng tôi là người giao liên. Tôi đã kể cho chị cách chúng tôi dấu súng trong chum đựng nước mắm [vì người Mỹ không thể chịu nổi mùi đó] và đưa chúng đến bãi mía. Chị có lẽ đã thấy chúng tôi rất nhiều lần.”

Mong ước về một cuộc sống bình yên và quyền tự chủ

Những câu chuyện gợi nhắc lại cho bà Borton về những gì bà trải nghiệm khi đi nhận thư ở một khu căn cứ quân sự của Mỹ. ‘Tôi thương đến đó lúc 5 giờ khi gọi báo có thư và đó là lúc những người phụ nữ vào đó quét dọn, lau chùi và rửa chén dĩa … đi về,” bà kể.

“Những người lính ở cổng sẽ kiểm tra giỏ của họ, và tất nhiên là không có gì trong đó. Tôi nhớ mình đã quan sát họ và nghĩ rằng những người này – những sĩ quan 18 tuổi mang găng tay trắng – thật ngốc nghếc. Họ không đưa cái gì ra ngoài bằng giỏ của họ cả, tất cả ở trong đầu của họ.”

Những năm sau chiến tranh, bà Borton đã dành thời gian sống giữa Việt Nam và Mỹ, xây dựng tình bạn với một số nhân vật lịch sử lớn – gồm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà báo người Úc Wilfred Burchett – những người mà quan điểm chính trị không có gì là bí mật. Dù vậy, khi gặp những phụ nữ trong làng thì bà không tin rằng động cơ chính thúc đẩy họ là niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản. Nhiều người cho bà biết họ không phải đảng viên.

“[Lần đầu khi tôi đến làng] tôi đã nghĩ rằng họ tin theo lý tưởng cộng sản, tin vào Hồ Chí Minh và những người khác và đó là những gì thúc đẩy họ,” bà nói.

“Sau đó tôi bắt đầu hỏi chuyện họ khi đã quen biết khá thân, tôi nói rằng, ‘Chị có phải cộng sản không? Họ trả lời, ‘Không, tôi không phải là đảng viên.”  Những gì họ mong muốn chỉ là cuộc sống hòa bình… Họ muốn có quyền tự chủ đối với đất nước của mình.”

Để dành một mục tiêu hi vọng như một người phụ nữ khác: bà Nguyễn Thị Bình. Bà Bình được chính Hồ Chí Minh chọn là thành viên nữ duy nhất trong nhóm đàm phán đi đến Paris năm 1968 để sắp xếp việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, theo bà Borton, người vừa mới dịch tự truyện của bà Bình sang tiếng Anh.

'Chỉ có [Hồ Chí Minh] mới chọn bà ấy; chỉ có ông ấy mới chọn một phụ nữ. Đó là một chọn lựa cực thông minh, vì bà ấy xinh đẹp và sử dụng tiếng Pháp thành thạo, là cháu gái chủa một nhà yêu nước rất nổi tiếng Phan Chu Trinh – người mà cả hai phía đều công nhận là một nhà yêu nước – thanh lịch và cởi mở,” bà Borton nói.

Bà Bình đã giải thích rằng Hồ Chí Minh khi còn trẻ đã gặp người ông nổi tiếng của bà ở Pháp, nơi Phan Chu Trinh phải sống cảnh tha hương sau những cuộc tàn sát đẫm máu đối với phong trào chống sưu thuế vào năm 1908. Bà không chắc rằng có phải vì mối quan hệ đó mà ông Hồ đã tìm đến bà hay không.

'Chủ tịch Hồ không hề nói với tôi về điều đó nhưng có thể đó là những gì ông ấy nghĩ,” bà nói.
“Trước những đàm phán và họp báo đó, tôi không phải là một người được huấn luyện đầy đủ về ngoại giao. Tôi đến các buổi họp báo với sức ép rất lớn và tôi đã lo lắng về trách nhiệm nặng nề của mình, về điều tôi có thể làm cho người dân của mình, tên tuổi của tôi. Tôi biết rằng mình có mặt ở đó đại diện cho quốc gia của mình và nói tiếng nói của dân tộc mình.”

Bà Borton cho biết điều thú vị về các cuộc đàm phán tại Paris đối với Việt Nam là nó không chỉ là về đàm phán: “Làm thế nào để họ, một quốc gia bé nhỏ, thương lượng với một nước khổng lồ như Hoa Kỳ? Sự kiện có mục đích là tranh thủ ủng hộ ở Paris và kêu gọi thế giới về phía họ.”

Và không thể quên những Bà mẹ Việt Nam anh hùng…

Trong tất cả các cuộc chiến, không chỉ cuộc chiến ở Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ sống trong chiến tranh luôn đem lại nhiều cảm xúc khác nhau đối với người quan sát. Có thể theo quan niệm chung của nhiều người, chiến tranh vẫn là một phạm trù chủ yếu dành cho nam giới, nên vị trí của người phụ nữ khi chiến tranh nổ ra là ở hậu phương với vai trò của người vợ, người mẹ, người yêu hay người thân của người lính. Nhưng sự thật là số lượng phụ nữ tham gia cuộc chiến ở Việt Nam là một con số rất đáng kể. Theo quyển ‘Even the Women must fight’ (1998) của Karen Gottschang Turner và Phan Thanh Hảo, số liệu phụ nữ tham gia vào quân đội ở miền Bắc Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ là 1.5 triệu người. 170,000 thanh niên tham gia thanh niên xung phong ở miền Bắc trong thời kỳ từ 1965-1975, trong đó số lượng phụ nữ chiếm đến 70-80%. Đó là chưa kể đến khoảng 1 triệu phụ nữ tham gia vào các đội du kích và quân dân ở địa phương. 70% những công việc nặng nhọc ở các tỉnh và thành phố ở miền Bắc nhằm phục vụ cho chiến đấu như sửa chữa cầu đường là do phụ nữ thực hiện. Theo số liệu trình bày trong quyển sách này thì hiện có từ 170.000 đến 180.000 cựu thanh niên xung phong đang còn sống. Số phụ nữ trở thành góa bụa hay không thể kết hôn được do hậu quả của chiến tranh là 1,4 triệu người (Turner và Phan Thanh Hảo, 1998).

Ở Việt Nam, có nhiều phụ nữ là mẹ của các con là liệt sỹ, thương binh, và bản thân nhiều người trong số họ cũng tham gia chiến đấu. Sau chiến tranh tên tuổi họ vẫn lừng lẫy và thường được nhắc đến trên báo đài. Chẳng hạn như Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, mẹ của 9 con ruột, 1 con rể và 1 cháu ngoại là liệt sỹ ở Quảng Nam, mẹ Nguyễn Thị Rành bản thân là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ở Củ Chi, Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Điểm (hay còn gọi là Thanh Tùng) vừa là BMVNAH đã tham gia đội biệt động đánh nhiều trận trong nội thành Sài Gòn, bà Nguyễn Thị Thập, cựu chủ tịch Hội LHPN Việt Nam đã để người con tốt nghiệp đại học nước ngoài của mình tham gia đoàn quân vượt Trường Sơn chiến đấu, bà Bùi Thị Mè, từng là thứ trưởng Bộ y tế - Thương binh và xã hội của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam việt Nam và là mẹ của 3 liệt sỹ (Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam).

Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam khác với cuộc chiến ở nhiều nước khác ở chỗ nó là một cuộc chiến nhân dân. Nó len lỏi đến khắp các làng mạc, thành phố, ngõ ngách và chạm đến cuộc sống của từng gia đình. Đó là một cuộc chiến rất khó phân lằn giữa chiến tuyến và hậu phương. Vì vậy những nỗ lực, nỗi cơ cực, sự đóng góp cho cuộc kháng chiến là những nỗ lực tập thể, là nỗ lực của toàn đồng bào đổ vào. Rất nhiều nữ thanh niên đã chiến đấu trên đường mòn Hồ Chí Minh, trong rừng rậm, hay trong các lực lượng vũ trang không được ghi danh hay biết đến. Và sự biết ơn, lòng kính trọng, sự cảm phục với đức hi sinh cao cả là những điều chúng ta cần dành đến họ trong ngày hôm nay - Ngày 8/3!!!

Happy Women’s Day!!!


HNN (dautruongdanchu.com)

Tags:
  1. Ngưỡng mộ các o du kích nhỏ, thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu! chúc các chị mạnh giỏi, vui vẻ và luôn sáng mãi phẩm chất người phụ nữ Việt Nam

    ReplyDelete

Lưu ý: Khi để lại Nhận xét bạn nên click vào ô "Thông báo cho tôi" ở dưới để nhận phản hồi từ Admin

Thể thao

Trong nước

Quốc tế

Giáo dục

Kỷ nguyên số

Công nghệ

Tuyệt chiêu

Văn hóa

Điện ảnh

Giải trí

Sự kiện bình luận

Sức khỏe

Bạn đọc

Bạn đọc viết

Ý kiến bạn đọc

Loading...
Copy

Tiêu điểm