Đăng bởi Đấu trường Dân chủ lúc September 21, 2017 , 0 bình luận

(tindautruongdanchu)-Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện nhiều bài viết cho rằng chính Việt Minh là thủ phạm gây ra nạn đói năm 1945. Có những bài viết cho rằng do Việt Minh lấy gạo để cung cấp cho quân đội Trung Hoa Dân quốc, cũng có ý kiến nói rằng do Việt Minh xúi người dân làm loạn nên việc cứu đói không thực hiện. Đó là những luận điệu sai trái, xuyên tạc không có căn cứ.


Hơn 70 năm qua những ký ức về nạn đói năm 1945 vẫn không thể phai mờ trong mỗi người dân Việt Nam.
Thu gom xác người dân bị chết đói trong nạn đói lịch sử 1944 - 1945 (Ảnh tư liệu của cố Nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh).




Vậy nguyên nhân do đâu dẫn đến nạn đói 1945

Thứ nhất:  do những hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương. Các cường quốc chiếm đóng Việt Nam như: Thực dân Pháp, phát xít Nhật vì mục đích phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá mức vào nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói kém của các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, gây ảnh hưởng  nghiêm trọng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt Nam. Nhân dân Việt Nam rơi vào cảnh “một cổ hai tròng”, vừa bị thực dân Pháp đàn áp, vừa bị phát xít Nhật hành hạ. Những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam (do tại nước Pháp khi đó cũng đang có chiến tranh và đang bị phát xít Đức xâm chiếm); sau đó, phát xít Nhật Bản dùng vũ lực hất cẳng Pháp, chiếm đóng Việt Nam, lại tiếp tục thực hiện các biện pháp khác khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (như: Bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật...). Trong khi lúc này (trước Cách mạng tháng Tám), lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam còn non trẻ, chưa giành được chính quyền, chưa tự chủ được về kinh tế, chưa giải phóng được nhiều ruộng đất và người dân khỏi ách đô hộ của thực dân, phong kiến, phát xít nên chưa đủ sức để hỗ trợ, cứu đói cho người dân… Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra như vậy đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực của miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo lại càng trở nên thiếu hơn.

Thứ hai là do các thế lực phong kiến, thực dân áp dụng chính sách sưu thuế nặng từ nhiều năm trước đó đối với người nông dân Việt Nam. Cách thức thu thuế sử dụng mạnh biện pháp tra tấn, đánh đập, bắt buộc người nông dân phải nộp đủ, không miễn giảm đối với các hộ đói nghèo, khiến cho nông dân phải bán tài sản hoặc lương thực để nộp thuế nên không có lương thực dự trữ.

Thứ ba: là do tự nhiên, thời tiết ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Vào tháng Tám năm 1945, một trận lũ khủng khiếp đã gây vỡ đê tại 79 điểm, gây ngập 11 tỉnh miền Bắc với tổng diện tích 312.000 ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4 triệu người… Sau cơn lũ, bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp, cộng với không có thuốc men, lương thực, nên góp phần làm cho nạn đói càng thêm trầm trọng. “Cuối năm 1944, quân số của Nhật ở Bắc kỳ đã lên tới gần 100.000 người. Bắc kỳ lúc đó đã thiếu gạo, vì 3 trận bão tàn phá các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương và Bắc Ninh, làm cho vụ mùa bị thất thu, lại bị cái họa phải nhổ lúa để trồng cây công nghiệp cho Nhật, nay lại phải nuôi thêm 100.000 miệng ăn của quân đội Nhật. Theo tờ trình của Thống sứ Bắc kỳ Chauvet, thì vào năm 1944 ở Bắc kỳ, diện tích trồng cây công nghiệp đã lên tới 45.000 ha”.Mặc dù mất mùa như vậy nhưng Việt Nam vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh. Có những năm phải cung cấp trên 1 triệu tấn (năm 1943: 1.125.904 tấn).

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt quốc dân đồng bào. Một ngày sau đó, ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Hồ Chủ tịch đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ, trong đó có diệt giặc đói. Tại đây, Chính phủ đã thống nhất:Phát động tăng gia sản xuất, mở các cuộc lạc quyên để chống nạn đói; Mở phong trào chống nạn mù chữ; Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; Mở phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, bài trừ các tệ nạn do chế độ thực dân để lại; Xóa bỏ các thứ thuế vô lý, trước mắt là thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tuyệt đối cấm hút thuốc phiện; Tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết.

Những nỗ lực cứu đói của lực lượng cách mạng Việt Nam

Đứng trước vận mệnh của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phong trao đấu tranh đánh Pháp, đuổi Nhật, giành chính quyền,  vừa phát động phong trào "Phá kho thóc, giải quyết nạn đói".

Trong cuốn sách "Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam – Tập II", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, phát hành năm 2008, từ trang 921 đến trang 925, có ghi lại rất rõ về Phong trào này: "Xuất phát từ lợi ích của nhân dân, từ nhu cầu hoạt động của cán bộ, đảng viên, từ sự thành bại của phong trào cách mạng, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương tháng 3 năm 1945 đề ra khẩu hiệu: "Phá kho thóc giải quyết nạn đói". Khẩu hiệu này được đưa ra đồng thời với khởi nghĩa từng phần, và Đảng coi đây là trọng tâm công tác, là khâu chính để biến lòng căm thù của nhân dân thành hành động cứu nước.

Đáp ứng đúng nguyện vọng của toàn dân, giải quyết từng mâu thuẫn đang diễn ra gay gắt trong xã hội nước ta, chủ trương của Đảng đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng vào phong trào phá kho thóc, chống đói với nhiều hình thức từ thấp đến cao, phong phú và sáng tạo.

Ở các tỉnh miền núi: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Yên Bái, các lực lượng vũ trang cùng quần chúng nhân dân kết hợp đánh đồn, phá chính quyền địch với phá kho thóc, kho muối chia cho nhân dân hoặc tích trữ cho bộ đội, du kích. Tại những tỉnh này, lực lượng vũ trang cùng nhân dân tiến hành phá cho thóc, uy hiếp địch để giành chính quyền hoặc đánh chiếm xong huyện lỵ rồi mới tổ chức nhân dân đi phá kho thóc của địch, cứu đói.

Tại Bắc Giang, Bắc Ninh, hàng ngàn quần chúng đi phá kho thóc của Nhật và bọn tích trữ thóc gạo cho Nhật ở Hiệp Hoà, Yên Phong, Tiên Du, Thuận Thành, thu hàng nghìn tấn thóc chia cho nhân dân.
Ở Vĩnh Yên, Phúc Yên trong tháng 3 và tháng 4, lực lượng du kích và tự vệ làm nòng cốt cho quần chúng phá hàng chục kho thóc, có kho chứa tới hàng nghìn tấn thóc. Tại Phú Thọ, trong một thời gian ngắn có tới 14 kho thóc bị phá để chia cho dân nghèo.

Tại Ninh Bình, chỉ trong ngày 15/3/1945, hàng nghìn quần chúng thuộc các huyện Nho Quan, Gia Viễn phá 12 kho thóc, thu hàng trăm tấn thóc chia cho nông dân. Những cuộc phá kho thóc ở Ninh Bình trở thành những cuộc chống Nhật khủng bố, càn quét, bảo vệ cán bộ và cơ sở. Tại Thái Bình, trong hai tháng 3 và 4, nhiều làng ở các huyện Phụ Dực, Thư Trì, Tiền Hải, Vũ Thư, Tiên Hưng thu được 1000 tấn thóc chia cho dân.

Ở Hải Dương, trong thời gian này, nhân dân đã phá 39 kho thóc, lấy 43 thuyền gạo với 2000 tấn. Riêng nhân dân các huyện phía nam tỉnh phá 26 kho, thu 28 thuyền gạo với 1238 tấn gạo.

Tự vệ và nhân dân Hưng Yên vừa phá các kho thóc, vừa thuyết phục các chánh tổng không thu thóc cho Nhật và chính quyền bù nhìn.

Nhân dân Hà Đông, Sơn Tây tịch thu thóc gạo của địch trên đường số 6, phá các kho thóc ở các huyện Ứng Hoà, Cần Kiểm, Tích Gian, Thạch Xá. Tại Quảng Yên, Hòn Gai nhân dân sử dụng nhiều hình thức dây dưa kéo dài hạn nộp thóc, tiến tới phá các kho thóc, gạo của Nhật và của bọn chủ mỏ.
Công nhân và dân nghèo thành thị ở Hà Nội tiến hành phá kho thóc gạo của Nhật ở các phố Bắc Ninh, Lê Lợi, Phà Đen… thu hàng trăm tấn thóc.

Các tỉnh miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình cũng diễn ca nhiều cuộc phá kho thóc cứu đói. Nhân dân Thanh Hoá có kinh nghiệm: nhân lúc Đồng minh ném bom, quân Nhật sợ hãi chạy trốn, xông vào các kho thóc Nhật để xúc thóc.

Cùng với khởi nghĩa từng phần, phong trào phá kho thóc của Nhật để cứu đói có ý nghĩa kinh tế, chính trị rất sâu sắc và to lớn. Phong trào đã nhanh chóng giải quyết được nạn đói ở nhiều tỉnh, uy tín của Việt Minh lên rất cao. Phong trào thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh và khởi nghĩa trong nhân dân, tập dượt quần chúng đi từ hình thức đấu tranh thấp đến những hình thức đấu tranh cao, kết hợp đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa".

Cách mạng tháng Tám thành công đã không chỉ giành được chính quyền về tay nhân dân, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà còn chấm dứt được nạn đói 1944 – 1945. Ngay trong những ngày đầu thành lập nước, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chính phủ là phải tiêu diệt "giặc đói". Nhiệm vụ tiêu diệt "giặc đói" lúc này được đặt ngang hàng với hai nhiệm vụ tiêu diệt "giặc dốt" và "giặc ngoại xâm".

Cách mạng tháng Tám thành công không chỉ giành được chính quyền về tay nhân dân, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà còn chấm dứt được nạn đói 1944 – 1945.

Và đến đây, ai cũng đã có câu trả lời cho câu hỏi: “ Ai đã giải thoát nạn đói cho người dân Việt Nam?”.

Xin thưa, không phải Pháp, chẳng phải Nhật mà đó chính là Việt Minh. Là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam mà đỉnh cao là chủ tịch Hồ Chí Minh.

72 năm đã qua đi, nhưng các thế hệ người Việt Nam vẫn không thể nào quên những ký ức đau thương về nạn đói khủng khiếp năm 1944 – 1945. Đó cũng là bài học nhắc nhở chúng ta phải luôn có ý thức tự lực, tự cường, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước. Đồng thời mỗi chúng ta cần phải nâng cao cảnh giác đấu tranh chống những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm chống phá, xóa bỏ vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc/.

Lê Giáp (dautruongdanchu.com)

Tags:

Lưu ý: Khi để lại Nhận xét bạn nên click vào ô "Thông báo cho tôi" ở dưới để nhận phản hồi từ Admin

Thể thao

Trong nước

Quốc tế

Giáo dục

Kỷ nguyên số

Công nghệ

Tuyệt chiêu

Văn hóa

Điện ảnh

Giải trí

Sự kiện bình luận

Sức khỏe

Bạn đọc

Bạn đọc viết

Ý kiến bạn đọc

Loading...
Copy

Tiêu điểm